Chương 1, Cẩm nang Sở hữu trí tuệ của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cũng đưa ra khái niệm tương tự về SHCN, theo đó SHCN bao gồm các sáng chế và kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn và tên thương mại, gồm các chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ và việc bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh. Như vậy, có thể thấy hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều tiếp cận khái niệm SHCN theo cách thức liệt kê các đối tượng được bảo hộ dưới dạng SHCN. Chính vì 3 Kamil Idris (2005), Sở hữu trí tuệ Một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế, Cục Sở hữu trí tuệ dịch và xuất bản, tr. 4 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Lê Nết – Nguyễn Xuân Quang chủ biên, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.
5 Đoạn 3 phần Giới thiệu chung của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. 8 cách tiếp cận theo hướng liệt kê này nên khái niệm QSHCN cũng không được quy định cụ thể. Pháp luật về SHTT của các quốc gia thường tập trung đi sâu vào quy định các quyền của các tổ chức, cá nhân đối với các đối tượng QSHCN, trao cho các chủ thể này quyền độc quyền kiểm soát các đối tượng QSHCN do họ sáng tạo ra hoặc có được một cách hợp pháp. Khác với các nước trên thế giới, pháp luật về SHTT tại Việt Nam không đề cập đến khái niệm SHCN mà trực tiếp quy định khái niệm về QSHCN.
Cụ thể, theo quy định tại khoản 4 Điều 4 LSHTT thì: “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.” Từ quy định nêu trên, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam tiếp cận khái niệm QSHCN dưới góc độ là một quyền dân sự. Bên cạnh đó, khái niệm này cũng liệt kê các đối tượng được pháp luật công nhận bảo hộ dưới dạng SHCN, các đối tượng QSHCN được liệt kê trong khái niệm này cũng gần như tương đồng với khái niệm về SHCN của pháp luật quốc tế. Với cách tiếp cận này, nhà làm luật khẳng định việc bảo hộ QSHCN bằng cách trao cho các tổ chức, cá nhân các quyền hợp pháp (quyền nhân thân và quyền tài sản) đối với các đối tượng QSHCN do họ sáng tạo ra hoặc có được một cách hợp pháp theo quy định của pháp luật. “Quyền nhân thân” theo quy định tại Điều 25 BLDS năm 2015 là “quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác”.
Cụ thể, quyền nhân thân mà pháp luật trao cho tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu các đối tượng QSHCN là quyền được đứng tên tác giả trong văn bằng bảo hộ, trong các tài liệu công bố, giới thiệu về đối tượng QSHCN. Còn “Quyền tài sản” theo quy định tại Điều 115 BLDS năm 2015 là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng QSHCN; quyền ngăn cấm người khác sử dụng và quyền định đoạt đối tượng QSHCN theo quy định của pháp luật. Quyền tài sản đối với các đối tượng QSHCN là quyền quan trọng nhất bởi vì pháp luật trao cho chủ sở hữu quyền được độc quyền kiểm soát đối tượng QSHCN trong một khoảng thời gian nhất định. Chính vì thế, quyền này có giá trị to lớn về mặt thương mại và thường được sử dụng trong các giao dịch kinh doanh giữa các thương nhân với nhau.
Có thể thấy rằng, các nhà lập pháp Việt Nam đã rất nỗ lực để đưa ra một khái niệm cụ thể về QSHCN, thành quả này rất đáng ghi nhận, tuy nhiên, việc liệt kê 9 hàng loạt các đối tượng QSHCN vào trong khái niệm đã làm giảm tính bao quát của khái niệm và dẫn đến trường hợp sẽ phải điều chỉnh lại khái niệm này nhiều lần nếu trong tương lai xuất hiện thêm những đối tượng SHCN khác mà pháp luật thừa nhận bảo hộ nhưng không được liệt kê trong khái niệm này. Nhìn chung, sẽ rất khó để đi tìm một quy định cụ thể về khái niệm QSHCN trong pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, từ cách tiếp cận khái niệm SHCN cũng như các quy định có liên quan về các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với các đối tượng QSHCN trong pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới, có thể hiểu một cách chung nhất rằng QSHCN là quyền mà Nhà Nước trao cho tổ chức hoặc cá nhân được độc quyền kiểm soát đối tượng QSHCN trong một khoảng thời gian nhất định. Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp Mặc dù được xem là một quyền dân sự, là một phạm trù pháp lý trong quyền sở hữu nói chung, tuy nhiên, không giống như quyền sở hữu các tài sản hữu hình khác, QSHCN là quyền hình thành trên các đối tượng do hoạt động lao động trí tuệ tạo thành (còn gọi là tài sản trí tuệ), điều này làm cho QSHCN cũng mang những điểm đặc trưng nhất định của QSHTT, thậm chí khi so sánh với quyền tác giả – cũng là một bộ phận của QSHTT, QSHCN cũng có những đặc trưng khác biệt.
Những đặc trưng cơ bản của QSHCN có thể kể đến như sau: Thứ nhất, đối tượng của QSHCN là những tài sản vô hình. Các đối tượng QSHCN như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại,v.v… được hình thành do quá trình lao động trí óc, do đó nó không thể cầm nắm được và cũng không chiếm hữu được về mặt vật lý. Nó tồn tại dưới dạng thông tin hoặc tri thức, thể hiện trong những vật thể hữu hình, và có thể được nhân bản thành vô số bản sao ở bất kỳ đâu trên thế giới6. Tuy không thể nhìn thấy được nhưng nó có thể trị giá được bằng tiền và có thể trao đổi tương tự như các tài sản hữu hình khi nó được vật chất hóa hoặc thể hiện trên những vật mang tin cụ thể.
Chính vì đặc tính này mà các đối tượng QSHCN được xem là một loại tài sản vô hình. QSHCN không phải là quyền sở hữu đối với các tài sản hữu hình như kiểu dáng một của chiếc xe, một nhãn hiệu nào đó mà QSHCN, thực chất là quyền của chủ sở hữu đối với những đối tượng vô hình (thông tin và tri thức) đứng đằng sau 6 D&N International, “Khái niệm sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ”, http://dnlaw.vn/vi/khai-niem- so-huu-tri-tue-va-quyen-so-huu-tri-tue.html, truy cập vào ngày 22/5/2015. 10 những vật hữu hình đó. Những thông tin và tri thức này có thể mang lại quyền lợi về tinh thần (quyền nhân thân) cũng như mang lại quyền vật chất (lợi nhuận) cho tác giả và chủ sở hữu quyền.
Do vậy, pháp luật hướng tới bảo hộ những đối tượng vô hình là thành quả của sự sáng tạo hay uy tín kinh doanh bằng cách trao cho tác giả hoặc chủ sở hữu các đối tượng QSHCN độc quyền khai thác, sử dụng và định đoạt chúng trong một khoảng thời gian nhất định để họ có thể thu lại chi phí đã bỏ ra và có thêm nguồn lực tài chính để nghiên cứu, sáng tạo các đối tượng QSHCN mới. Việc Nhà nước bảo hộ QSHCN cho chủ sở hữu quyền một cách hữu hiệu là động lực quan trọng để nền khoa học công nghệ cũng như nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển. Thứ hai, căn cứ xác lập QSHCN khác với tài sản hữu hình. Quyền sở hữu tài sản mà đặc biệt là tài sản hữu hình được xác lập dựa trên căn cứ được quy định trong Bộ luật dân sự7.
QSHCN cũng là một loại tài sản, tuy nhiên việc xác lập quyền của chủ sở hữu đối với đối tượng QSHCN không giống với các tài sản hữu hình, mà việc xác lập quyền phải căn cứ vào quy định của LSHTT8. Nếu như đối với tài sản hữu hình, một tổ chức, cá nhân sẽ trở thành chủ sở hữu đối với tài sản kể từ thời điểm có được tài sản đó thông qua lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp9 thì đối với tài sản trí tuệ, chủ thể sáng tạo ra tài sản trí tuệ chưa hẳn đã là chủ sở hữu của tài sản đó. Theo quy định của LSHTT, người dùng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật của mình để sáng tạo ra đối tượng QSHCN sẽ được xem là chủ sở hữu, đồng thời là tác giả của đối tượng QSHCN đó. Trong trường hợp có nhiều người cùng dùng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật của họ để sáng tạo ra đối tượng QSHCN thì sẽ được xem là đồng chủ sở hữu đồng thời là đồng tác giả.
Trong trường hợp đối tượng QSHCN được tạo ra dựa trên nhiệm vụ được giao hoặc hợp đồng thuê việc thì chủ sở hữu đối tượng QSHCN sẽ là tổ chức, cá nhân giao nhiệm 7 Điều 221 BLDS năm 2015 quy định 8 căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản, bao gồm: 1. Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, do hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; 2. Được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác; 3. Thu hoa lợi, lợi tức; 4.
Tạo thành tài sản mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến; 5. Được thừa kế; 6. Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu; tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên; 7. Chiếm hữu, được lợi về tài sản theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này; 8.
Trường hợp khác do luật quy định. 11 vụ sáng tạo hoặc ký kết hợp đồng sáng tạo với tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra đối tượng QSHCN.