Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT HÀNH GIẤY TỜ CÓ GIÁ VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH GIẤY TỜ CÓ GIÁ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN 1. Khái niệm, đặc điểm giấy tờ có giá và phát hành giấy tờ có giá tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của giấy tờ có giá do ngân hàng thương mại phát hành 1. Khái niệm giấy tờ có giá Giấy tờ có giá nói chung, được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ chức, cá nhân) xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác.
Tuy nhiên, đối với hoạt động huy động vốn của các ngân hàng, khái niệm giấy tờ có giá được hiểu theo nghĩa rất hẹp, chỉ bao gồm các phiếu nợ do ngân hàng phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền chủ nợ của người sở hữu phiếu nợ và nghĩa vụ trả một số tiền nhất định của ngân hàng phát hành vào một thời điểm xác định ghi trên phiếu nợ [28]. Theo Thông tư số 34/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu (sau đây gọi là giấy tờ có giá) là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành với người mua giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác [11, Điều 2, khoản 1]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hay nói các khác, các giấy tờ có giá do TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành là một công cụ vay nợ trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn dưới hình thức giấy nhận nợ hoặc chứng chỉ tiền gửi trong đó TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cam kết trả gốc, lãi cho người mua sau một khoảng thời gian nhất định. Khoản 2 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định NHTM được phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Theo đó, có nhiều hình thức giấy tờ có giá khác nhau để khách hàng có thể chọn lựa: - Trái phiếu: Ở các nước phát triển, trái phiếu ngân hàng là một loại công cụ nợ do NHTM phát hành nhằm tài trợ vốn cho hoạt động kinh doanh cuả ngân hàng. Thông thường việc phát hành trái phiếu phải được sự cho phép của Ngân hàng Trung ương. Kỳ hạn của trái phiếu rất phong phú: 7 năm, 10 năm, 20 năm. Chủng loại cũng rất đa dạng như: Trái phiếu có lãi suất điều chỉnh, trái phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu có lãi suất cố định, trái phiếu có thể chuyển đổi sang cổ phiếu.
Người sở hữu có thể bán trái phiếu trên thị trường thứ cấp trước khi trái phiếu đó hết hạn [32]. Ở Việt Nam, trái phiếu ngân hàng là một công cụ vay nợ trung và dài hạn trên thị trường vốn dưới hình thức giấy nợ của các NHTM phát hành để huy động vốn. Trong đó các NHTM cam kết trả gốc và lãi cho người mua (hoặc người sở hữu) sau một thời gian nhất định. Nếu căn cứ vào đối tượng khách hàng, có thể tạm chia loại hình trái phiếu thành hai nhóm là trái phiếu thuộc vốn huy động và trái phiếu thuộc vốn tự có.
Trái phiếu thuộc vốn huy động là trái phiếu có thời hạn linh hoạt, người mua là chủ nợ thường (được ưu tiên thanh toán nợ trước). Trái phiếu thuộc vốn tự có là trái phiếu có thời hạn từ 10 năm trở lên, người mua là chủ nợ thứ cấp. Loại hình trái phiếu thường 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có hai phương thức phát hành, hoặc là phát hành theo mệnh giá (tức là hình thức trả lãi sau) hoặc phát hành theo hình thức chiết khấu (tức trả lãi trước). Nhìn chung, đối với các NHTM, đây là nguồn vốn có tính ổn định cao nhất và đặc biệt với hình thức huy động này, ngân hàng luôn ở vị thế chủ động khi huy động vốn: Chủ động về thời gian, về quy mô vốn… Bằng công cụ này, các NHTM có thể chủ động tạo được một khối lượng vốn như mong muốn một cách nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu vốn cấp bách đầu tư cho các công trình lớn của quốc gia.
Tuy nhiên, điểm hạn chế của loại hình huy động này là chi phí huy động cao hơn so với các loại hình khác, cụ thể là lãi suất huy động, đây cũng chính là điểm hấp dẫn các nhà đầu tư lựa chọn loại chứng khoán này, ít rủi ro và cũng có một lợi nhuận đáng kể. - Kỳ phiếu: Đây là loại giấy tờ có giá ngắn hạn (dưới 1 năm), được sử dụng cho mục đích vay vốn ngắn hạn của NHTM và hoạt động phát hành giấy tờ có giá đặc thù của NHTM. Tuy nhiên, với thời hạn huy động vốn ngắn, thông thường là 3 tháng hoặc 6 tháng, mức độ rủi ro của các giấy tờ có giá này thường thấp hơn so với trái phiếu nên các NHTM được chủ động phát hành loại giấy tờ có giá này sau khi đã có văn bản thông báo với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Kỳ phiếu được phát hành theo hai phương thức: + Phát hành lãi trả trước: Khách hàng mua kỳ phiếu sẽ trả số tiền mua kỳ phiếu trừ đi số tiền lãi mà họ được hưởng.
Lãi suất của kỳ phiếu trả lãi trước cao hơn so với kỳ phiếu trả lãi sau nhằm hấp dẫn và thu hút khách hàng. Khi đến hạn, NHTM sẽ trả cho khách hàng theo mệnh giá của kỳ phiếu. + Phát hành trả lãi sau: Khách hàng có thể mua tùy theo khả năng của mình, NHTM ghi số tiền của khách hàng mua lên kỳ phiếu. Khi đến hạn NHTM trả gốc và thanh toán lãi cho người mua kỳ phiếu.
Phát hành kỳ phiếu là một nghiệp vụ huy động vốn có tính hiệu quả 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cao, hấp dẫn người mua và NHTM luôn chủ động trong việc bổ sung vốn ngắn hạn khi cần thiết. Trong Đạo luật về Cục dự trữ liên bang của Hoa Kỳ, các thuật ngữ “trái phiếu” và “kỳ phiếu” cũng được ghi nhận dùng để chỉ các giấy chứng nhận nợ và các hối phiếu kho bạc được phát hành theo phần 3104 của mục 31 [30, tr. - Tín phiếu: Tín phiếu là một loại "trái phiếu ngắn hạn" do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành, khác nhau về thời gian có giá trị tối đa là 364 ngày. Theo quy định, tín phiếu có thời hạn đến 12 tháng, còn thời hạn của trái phiếu là trên 12 tháng.
Về nguyên tắc, tín phiếu do các NHTM tự nguyện mua, trên cơ sở tính toán nguồn vốn của mình và có thời hạn dưới 12 tháng. Trường hợp cần thiết, NHTM có thể bán lại tín phiếu cho Ngân hàng Nhà nước để lấy tiền về. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết Ngân hàng Nhà nước "bắt buộc" các NHTM phải mua một lượng tín phiếu để điều chỉnh chính sách tiền tệ. Đối tượng nắm giữ tín phiếu Ngân hàng Nhà nước thường khó có thể sử dụng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước để cầm cố, mua, bán trên thị trường mở (OMO) mà thường buộc phải giữ lại đến khi đáo hạn để hưởng một mức lãi suất nhất định.
- Chứng chỉ tiền gửi: Là những giấy tờ xác nhận tiền gửi định kỳ ở một ngân hàng. Người sở hữu chứng chỉ tiền gửi sẽ được ngân hàng thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ vốn khi đến hạn và sau khi phát hành thì chứng chỉ sẽ được lưu thông trên thị trường tiền tệ. Đây cũng là hình thức phát hành giấy tờ có giá đặc thù của NHTM so với các doanh nghiệp thông thường. Căn cứ quy định tại Điều 4 Luật Ngân hàng thương mại Thái Lan (còn được gọi là “Luật Ngân hàng thương mại, B.2505”), “Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ chuyển nhượng do ngân hàng thương mại cấp cho người gửi tiền 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làm bằng chứng về khoản tiền gửi và quyền của chủ sở hữu công cụ chuyển nhượng được nhận lại tiền gửi tại cuối kỳ hạn thanh toán cùng hoặc không cùng lãi suất nhất định được ghi trên chứng chỉ tiền gửi” [30, tr.
Như vậy, giấy tờ có giá được hiểu là trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi được ghi nhận là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành với người mua giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác. Phân loại giấy tờ có giá Theo khoản 4 Điều 2 Thông tư số 34/2013/TT-NHNN ngày 31/12/2013, thời hạn giấy tờ có giá là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày đến hạn thanh toán. Căn cứ vào thời hạn nói trên thì có giấy tờ có giá ngắn hạn và giấy tờ có giá dài hạn: - Giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy tờ có giá có thời hạn dưới 1 năm, bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. - Giấy tờ có giá dài hạn là giấy tờ có thời hạn từ một năm trở lên, bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác.
Theo Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, giấy tờ có giá không phân biệt kỳ hạn là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác. Căn cứ vào tính xác thực của người sở hữu thì có giấy tờ có giá ghi danh và vô danh: - Giấy tờ có giá ghi danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ có ghi tên người sở hữu. - Giấy tờ có giá vô danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu. Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.