Chương I1: CO SO KHOA HOC VE CHO VAY DOANH NGHIEP NHO VÀ VỪA CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của các ngân hàng thương mại 1. Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vita 1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở hầu hết các nước trên thế giới bởi cả số lượng và chiếm tỷ trọng lớn của nền kinh tế nói chung, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Hiện tại, chưa có các tiêu chí thống nhất trên phạm vi toàn cầu về quy mô của doanh nghiệp nhỏ và vừa mà chỉ có các tiêu chí riêng của từng quốc gia hoặc từng nhóm các quốc gia khác nhau hoặc của một số tô chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB). Tuy nhiên, sự thống nhất chung của các tiêu chí là căn cứ vào các đặc điểm về trình độ, năng lực sản xuất kinh doanh, quy mô vốn, quy mô tổng tài sản, số lượng lao động, của một doanh nghiệp. Nếu các chỉ tiêu nói trên của doanh nghiệp ở trong một mức giới hạn nhất định nào đó thì doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nếu các chỉ tiêu ở ngoài mức giới hạn nhất định, doanh nghiệp sẽ không còn được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa, có thể là doanh nghiệp siêu nhỏ hoặc ngược lại là các doanh nghiệp lớn hoặc rất lớn.
Theo cách tiếp cận đó, các chuyên gia kinh tế cũng như các nhà quản lý đã tiến hành phân biệt giữa DNNVV với các doanh nghiệp siêu nhỏ hoặc các doanh nghiệp lớn bằng cách sử dụng kết hợp hai nhóm tiêu chí định tính và định lượng. Các tiêu chí định tính bao gồm tính chuyên môn hoá, mức độ đa dạng ngành nghề của hoạt động sản xuất kinh doanh, số lượng đầu mối quản lý, mô hình tô chức và quản lý. Nếu hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có mức độ chuyên môn hóa thấp, có mức độ ngành nghề ít đa dạng với 6 mô hình tổ chức và quản lý gọn nhẹ, đơn giản ít đầu mối thì đó là những DNNVV. Đây cũng là lý do giải thích cho số lượng và tỷ trọng các DNNVV lớn trong nền kinh tế của các nước đang phát triển.
Dù chưa thể có một khái niệm chung thống nhất nhưng có thể hiểu DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ về vốn, về năng lực sản xuất kinh doanh, về lao động và về doanh thu. DNNVV Ia co so kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (lổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lượng lao động bình quân năm (tổng nguôn vốn là tiêu chí tu tiên) [10].1: Phân loại theo quy mô DNNVV theo nguồn vốn và lao động Doanh nghiệp | Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô siêu nhỏ Khu vực & Tông k Tong k So lao x So lao x So lao ˆ nguồn ˆ nguôn ˆ động F động F động vôn vôn I. Nong, lam nghiệp | 10 người | 20ty | từ trên 10 |từ trên 20 tỷ| từ trên 200 và thủy sản trở xuống | đồng trở | người đến | đồng đến | người đến xuống |200 người |100 tỷ đồng| 300 người II. Cong nghiệp và| 10 người | 20ty | từ trên 10 |từ trên 20 tỷ| từ trên 200 xây dựng trở xuống | đồng trở | người đến | đồng đến | người đến xuống |200 người |100 tỷ đồng| 300 người IH.
Thương mại và| 10 người 10tỷ | từ trên I0 |từ trên 10 tỷ| từ trên 50 dịch vụ trở xuống | đồng trở | người đến | đồng đến | người đến xuống | 50 người | 50 tỷ đồng | 100 người (Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009) Như vậy, khái nệm DNNVV của Việt Nam đã có sự phân biệt cho các nhóm ngành nghề riêng biệt. Cụ thể, quy định về DNNVV thuộc khu vực sản xuất có sự khác biệt với quy định về DNNVV thuộc lĩnh vực thương mại. Việc định nghĩa và phân loại DNNVV nhằm giúp các tô chức trợ giúp và cơ quan quản lý Nhà nước về trợ giúp phát triên DNNVV áp dụng đúng đối tượng. Bên cạnh đó, tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.
Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV là loại hình doanh nghiệp phô biến ở hầu hết các nước xét trên một số tiêu chí trên đây và là loại hình doanh nghiệp chiếm tỷ trọng và có sé lượng rất lớn. Ở nhiều nước, tỷ lệ các doanh nghiệp nhỏ và vừa lên tới 70- 80% tông số các doanh nghiệp trong nền kinh tế và với số lượng lên tới hàng triệu doanh nghiệp. Ngoài những đặc điểm chung của doanh nghiệp, các DNNVV có những những đặc điểm riêng, đặc trưng cho DNNVV cần được nghiên cứu, tìm hiểu rõ hơn nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý và tạo điều kiện hỗ trợ phát triển loại hình DNNVV. - Doanh nghiệp nhỏ và vừa có von dau tw ban dau và quy mô von kinh doanh không lớn Theo các tiêu chí trình bày trên đây, thì dù theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới hay quy định của Việt Nam thì quy mô vốn đầu tư ban đầu và mức vốn kinh doanh không lớn.
Đặc điểm này cho thấy các DNNVV luôn dễ dàng được thành lập và có số lượng rất lớn trong nền kinh tế. Với quy mô vốn đầu tư và kinh doanh không lớn, các DNNVV có khả năng quay vòng vốn nhanh, đảm bảo tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh và hiệu quả cao. Chính vì vậy, các DNNVV luôn được đánh giá là thị trường lớn, rất tiềm năng đối với các đối tác, bạn hàng cung cấp các yếu tố đầu vào cũng như tiêu thụ các sản phẩm đầu ra. Ngoài ra, với quy mô vốn đầu tư và kinh doanh không lớn, dé thành lập, các DNNVV được hình thành và tiến hành hoạt động ở nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh của nền kinh tế với nhiều ngành nghề.
Một mặt, các DNNVV luôn đáp ứng nhu cầu đa dạng của nền kinh tế, song mặt khác dễ dàng thay đổi, thích ứng với các điều kiện của nền kinh tế xã hội. Với quy mô vừa và nhỏ các DNNVV dễ dàng thay đổi mặt hàng SXKD, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và thay đối của người tiêu dùng ở mọi tầng lớp xã hội. Việc dé dàng thay đổi ngảnh nghề, cơ cấu mặt hàng, đa dạng về sản phẩm, dịch vụ cung ứng, DNNVV dễ dàng thích nghỉ với sự thay đổi của môi trường kinh đoanh, có thé tránh được những rủi ro khi có những thay đổi của môi trường kinh doanh và pháp lý. Do vậy trên thực tế, rất nhiều nước đã rất thành công trong việc lựa chọn chiến lược công nghiệp hóa trên cơ sở phát triền mô hình DNNVV.
Trong khi ở nhiều nước khác, sự phát triển của các DNNVV đã hạn chế tối đa thì mức độ thiệt hại của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. - Doanh nghiệp nhỏ và vừa có năng lực tài chính và năng lực sản xuất kinh doanh hạn chế DNNVV khi thành lập có vốn đầu tư ban đầu thấp, điều này dẫn đến một tình trạng chung đó là hầu hết các DNNVV đều có năng lực tài chính thấp. Dé dam bao cho qua trinh san xuất kinh doanh diễn ra một cách liên tục và hiệu quả kinh doanh cao, các doanh nghiệp nói chung thường sử dụng đòn bẩy tài chính, tức là cần có một lượng vốn nhất định vay từ các chủ thể khác như các doanh nghiệp bạn hàng, các ngân hàng thương mại (NHTM) hay các tổ chức tín dụng (TCTD) khác.Tuy nhiên, đối với các DNNVV, việc vay vốn thường gặp rất nhiều khó khăn vì năng lực tài chính thấp trong khi tài sản bảo đảm (TSBĐ) thường không đạt yêu cầu tiêu chuẩn của các NHTM hay các TCTD. Các NHTM hay các TCTD khi cho vay luôn yêu cầu khách hàng phải có TSĐB để hạn chế rủi ro tín dụng, nhưng TSĐB của các DNNVV thường có giá trị không lớn, thậm chí hồ sơ tải liệu chứng minh về nguồn gốc hay thủ tục mua sắm cũng không đáp ứng các quy định đề làm thủ tục cho vay.
Ngoài điều kiện về TSĐB thì các NHTM và các TCTD còn đặt ra yêu cầu khách hàng vay vốn đề thực hiện các dự án thì phải có một lượng vốn đối ứng nhất 9 định, trong điều kiện năng lực tài chính của các DNNVV lại thấp nên khả năng tham gia vốn đối ứng là rất khó khăn. Ngoài kênh vay vốn từ các NHTM và các TCTD, tùy theo loại hình tổ chức, các doanh nghiệp có thê huy động vốn từ thị trường tài chính thông qua con đường phát hành trái phiếu hoặc phát hành cổ phiếu đề tăng vốn chủ sở hữu. Song với đặc trưng về vốn đầu tư ban đầu không lớn, quy mô sản xuất kinh doanh hạn chế nên việc huy động vốn từ thị trường tài chính của các DNNVV là rất khó khăn. Các DNNVV không có uy tín lớn để có thể thu hút được các nhà đầu tư chấp nhận đầu tư vào doanh nghiệp.
Việc thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh đoanh làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV gap nhiéu bat loi, kha nang tao ra loi nhuan bi han chế, do đó mà khả năng tự tích luỹ là thấp, các doanh nghiệp phải tìm đến con đường liên doanh, liên kết để đổi mới công nghệ, trang thiết bị để nắm bắt cơ hội kinh doanh và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. - Doanh nghiệp nhỏ và vừa có mô hình tổ chức và quản lý đơn giản và gọn nhẹ Các DNNVV có mô hình tổ chức và quản lý đơn giản gọn nhẹ, linh hoạt và hoàn toàn phù hợp với quy mô hoạt động kinh doanh. Đa số các DNNVV là các công ty trách nhiệm hữu hạn với số lượng các thành viên tham gia không thé qua lớn trong khi sỐ lượng lao động từ 10 đến 300 người. Mô hình tô chức gọn nhẹ này tạo điều kiện cho DNNVV có được mối quan hệ nội bộ dễ điều chỉnh, công tác điều hành mang tính trực tiếp, quan hệ giữa người quản lý và người lao động là khá gần gữi và chặt chẽ.
Vì thế mà các mệnh lệnh từ lãnh đạo hay cấp trên được truyền dẫn đến người thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời.