Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 1. Dân chủ và Quy chế dân chủ ở cơ sở 1. Khái niệm Dân chủ, Dân chủ cơ sở và Quy chế dân chủ ở cơ sở 1. Dân chủ Thuật ngữ dân chủ xuất hiện từ thời cổ đại.
Người đầu tiên đưa ra khái niệm dân chủ là nhà sử học, nhà chính trị học người Hy Lạp là Hêrôđốt (484 - 425 trước Công nguyên) khi ông xem xét các thể chế chính trị trong lịch sử. Theo ông, lịch sử đã xuất hiện ba kiểu thể chế chính trị: quân chủ, quý tộc và dân chủ, trong đó dân chủ là thể chế chính trị do nhân dân nắm quyền lực thông qua con đường bầu cử. Để chỉ một hiện thực dân chủ đã được thiết lập trên thực tế, trong ngôn ngữ đã xuất hiện thuật ngữ democratia, nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân (democratia là từ ghép của hai từ demos là nhân dân, cratos là quyền lực). Như vậy, với nguyên nghĩa của từ, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân.
Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực để tổ chức, quản lý xã hội, phát triển xã hội, phát triển con người. Với ý nghĩa đó, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội - nhất là xã hội có giai cấp. Ngay từ xã hội cộng sản nguyên thủy con người đã biết sống gắn bó với nhau thành cộng đồng để tồn tại và phát triển. Họ biết sử dụng sức mạnh của cộng đồng để thực hiện quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Một hình thức đặc biệt của dân chủ đã xuất hiện mà Ăngghen gọi là dân chủ quân sự hay dân chủ nguyên thủy. Thông qua Đại hội nhân dân, nhân dân đã bầu ra Hội đồng thị tộc và Thủ lĩnh quân sự, đồng thời quyết định những vấn đề quan trọng của thị tộc. Trong "nền dân chủ quân sự", quyền lực của 9 nhân dân "thiêng liêng và bất khả xâm phạm, đều là một quyền lực tối cao do tự nhiên ban cho, quyền lực mà mỗi người phải phục tùng một cách vô điều kiện, trong tình cảm, tư tưởng, và hành động của mình" [14, tr. Sự phát triển của sản xuất và phân công lao động xã hội, phân hóa giai cấp và đấu tranh giai cấp đã làm cho xã hội cộng sản nguyên thủy tan rã, hình thành nên Nhà nước chiếm hữu nô lệ.
Giai cấp chủ nô đã biến Nhà nước thành công cụ thực hiện quyền lực chính trị, phục vụ lợi ích của mình. Nhà nước chủ nô dân chủ là hình thức đầu tiên của chế độ dân chủ trong xã hội có giai cấp - dân chủ của giai cấp chủ nô. Theo Các Mác, trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôta (1875), dân chủ tức là chính quyền của nhân dân. Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng Lênin cũng cho rằng chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái của Nhà nước.
Nhà nước chủ nô là hình thái dân chủ đầu tiên trong lịch sử nhưng không phải giành cho nhân dân với tư cách là số đông mà là cho giai cấp chủ nô. Tuyệt đại bộ phận con người đã bị đẩy xuống hàng nô lệ trở thành "con vật biết nói". Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến cho cuộc đấu tranh giành quyền dân chủ trở thành một trong những nội dung của cuộc đấu tranh giai cấp. Nền dân chủ sơ khai của xã hội loài người không được tiếp tục phát triển ở thời kỳ lịch sử tiếp theo mà lại bị thủ tiêu bởi chế độ chuyên chế phong kiến.
Nhà nước phong kiến, độc đoán chuyên quyền câu kết với các thế lực của thần quyền đã gạt nhân dân lao động ra khỏi cơ chế quyền lực. Cuộc đấu tranh giành quyền lực - giành quyền làm chủ lại tiếp tục diễn ra gay gắt. Kết quả là chế độ chuyên chế phong kiến lại bị một trật tự dân chủ mới mạnh mẽ hơn phủ định - đó là chế độ dân chủ tư sản. Nền dân chủ tư sản mạnh mẽ vì nó dựa trên một nền kinh tế - xã hội phát triển hơn so với các chế độ trước đó.
10 So với chế độ dân chủ sơ khai thời kỳ cổ đại, nền dân chủ tư sản đạt tới trình độ phát triển cao hơn. Theo đó, các quan niệm về dân chủ được bắt đầu từ khái niệm nhân dân là người chủ của quyền lực, có quyền và nghĩa vụ công dân được pháp luật quy định và bảo vệ. Dưới chế độ dân chủ tư sản địa vị xã hội của công dân được pháp luật thành văn và không thành văn quy định. Nhưng nền dân chủ tư sản trong thực chất còn rất nhiều hạn chế và không thoát khỏi sự mị dân nhằm bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tư sản cầm quyền.
"Trong Nhà nước tư sản dân chủ nhất, quần chúng bị áp bức đều luôn vấp phải các mâu thuẫn hiển nhiên giữa quyền bình đẳng hình thức do "chế độ dân chủ" của bọn tư bản ban bố với hàng nghìn hạn chế và mánh khóe dối trá thực sự, đang biến những người vô sản thành nô lệ làm thuê" [24, tr. Sự hạn chế và tính chất mị dân của dân chủ tư sản thể hiện như thế nào? Dưới chế độ dân chủ tư sản cùng với sự tha hóa của con người là sự tha hóa về quyền lực, đặc biệt là quyền lực chính trị. Đúng như nhận xét của C.Mác về chế độ dân chủ tư sản rằng bầu cử trong chủ nghĩa tư bản là sự "tự do" của nhân dân lựa chọn những người thống trị mình. Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, Lênin có nhận xét tinh tế về bản chất chế độ dân chủ tư sản: "Chế độ đại nghị tư sản là chế độ kết hợp chế độ dân chủ (không phải cho nhân dân) với chế độ quan liêu (chống nhân dân)" [25, tr.
Cơ sở bảo vệ lợi ích của nền dân chủ tư sản là bảo vệ, bênh vực và tạo mọi cơ hội cho giai cấp tư sản ngày càng giàu có. Điều đó được thể hiện tập trung trong các quy định pháp luật của Nhà nước tư sản. Chẳng hạn, các quy định về kiểm soát tài sản, nơi cư trú, quy định về vận động tài chính cho các cuộc bầu cử v. Nhà nước tư sản luôn luôn đề cao chức năng chính trị (thống trị giai cấp) khi hình thành bất kỳ một quy định pháp luật nào để thực thi trong xã hội.
Trong xã hội tư bản mâu thuẫn giữa tính chất giai cấp của 11 giai cấp tư sản cầm quyền với tính nhân dân (tính vô sản) của dân chủ càng trở nên gay gắt. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến cách mạng vô sản để giải quyết mâu thuẫn trên bằng việc thiết lập chế độ dân chủ XHCN. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Ăngghen đã chỉ rõ: "Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự giành lấy chính quyền, phải tự mình vươn lên thành giai cấp dân tộc" [15, tr.623-624], phải giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp là giành lấy quyền lực Nhà nước (quyền làm chủ về chính trị), thiết lập Nhà nước dân chủ vô sản, chế độ dân chủ vô sản. Đó là "chế độ sẽ thi hành ngay lập tức những biện pháp để chặt tận gốc chế độ quan liêu và sẽ có thể thi hành những biện pháp ấy tới cùng, tới chỗ hoàn toàn phá hủy chế độ quan liêu, tới chỗ hoàn toàn xây dựng một chế độ dân chủ cho nhân dân" [25, tr.
Với ý nghĩa đó, chế độ dân chủ vô sản, chế độ dân chủ XHCN đóng vai trò to lớn trong các cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người, trở thành mục tiêu và động lực của cuộc cách mạng vô sản. Chế độ dân chủ XHCN là chế độ chính trị mà ở đó những giá trị dân chủ, quyền lực của nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật, thành những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, thành nguyên tắc mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội, các giá trị và chuẩn mực dân chủ chi phối hoạt động của mọi lĩnh vực xã hội. Nền dân chủ XHCN với tư cách là chế độ chính trị, đồng thời với tư cách là quyền lực của nhân dân sẽ từng bước hoàn thiện và phát huy vai trò to lớn trong tiến trình cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng mácxít - lêninnít. Sự thống nhất giữa dân chủ về chính trị - pháp lý và dân chủ trong kinh tế, làm chủ trong kinh tế và xã hội sẽ tạo điều kiện để dân chủ XHCN ra đời, tồn tại và phát triển vì lợi ích của nhân dân lao động.
Theo Lênin: 12 "Không có chế độ dân chủ thì chủ nghĩa xã hội không thể thực hiện được theo hai ý nghĩa sau đây: (1) giai cấp vô sản không thể hoàn thành được cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nếu họ không được chuẩn bị cho cuộc cách mạng đó thông qua cuộc đấu tranh cho chế độ dân chủ; (2) chủ nghĩa xã hội chiến thắng sẽ không giữ được thắng lợi của mình và sẽ không dẫn được nhân loại đi đến chỗ thủ tiêu nhà nước, nếu không thực hiện được đầy đủ chế độ dân chủ" [24, tr. Sau thắng lợi của cách mạng Tháng mười Nga, Nhà nước Xô viết - chế độ dân chủ XHCN đầu tiên trên thế giới ra đời. Theo Lênin: "Chế độ Xô viết là chế độ dân chủ ở mức cao nhất cho công nhân và nông dân; đồng thời, nó có nghĩa là sự đoạn tuyệt với chế độ dân chủ tư sản và sự xuất hiện trong lịch sử thế giới một chế độ dân chủ kiểu mới, tức là chế độ dân chủ vô sản hay là chuyên chính vô sản" [27, tr. Chế độ dân chủ ở nước Nga Xô viết đã từng bước hiện thực hóa quyền dân chủ của nhân dân trên thực tế, hiện thực hóa sự bình đẳng của quần chúng trong việc tham gia vào tổ chức và hoạt động chính quyền nhà nước - xác định hình thức, nội dung và nhiệm vụ của Nhà nước.
Ở Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á được thiết lập. Nhân dân ta từ địa vị nô lệ làm thuê đã trở thành người chủ của đất nước. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân miền Bắc đã trở thành chủ thể của mọi quyền lực.