Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm pháp luật về các cơ quan chuyên môn Có nhiều khái niệm khác nhau về cơ quan chuyên môn như: “Cơ quan có nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cấp mình, đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên… Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân là các sở phòng, ban…” theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học – Trường Đại học Luật Hà Nội [39]. Khái niệm:“Cơ quan có nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương… góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở… Cơ quan chuyên môn được thành lập ở cấp tỉnh cấp huyện…” theo quan điểm của từ điển luật học của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp [40]. Còn quy định Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân trong Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên.
Nhìn chung khái niệm trong luật và trong khoa học quản lý về cơ quan chuyên môn không có sự thay đổi với mục đích xác định vị trí, vai trò tổ chức và hoạt động của các cơ quan chuyên môn nhằm đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển trong điều kiện mới. Thực hiện pháp luật về tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm pháp luật về tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Tổ chức theo quan niệm của Luật học (khoa học luật dân sự) là pháp nhân, các gọi này dùng để phân biệt với thể nhân (con người) là các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Các điều kiện thành lập tổ chức và đảm bảo các yêu cầu hoạt động của tổ chức được Luật học nhấn mạnh đến là một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 74 Bộ Luật Dân sự 2015 (số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội).
Còn “Tổ chức” được định nghĩa theo quan điểm này của Khoa học tổ chức và quản lý là tập thể của con người, những tập thể này thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định bằng hình thức tập hợp nhau lại. Định nghĩa này là có nhiều điểm tương đồng với Luật học. Tuy nhiên, quan điểm này xác định tổ chức thuộc về con người, trong đó mục tiêu của tổ chức là điều kiện quan trọng, không thể thiếu. Còn định nghĩa “Tổ chức” của những người làm công tác tổ chức nhà nước được ghi trong cuốn Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhà nước là một đơn vị xã hội, quan điểm này chỉ ra tổ chức này hoạt động tương đối rõ ràng một cách có ý thức, có phạm vi và nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung thông qua các hoạt động của tổ chức có nhiều điểm tương đồng với khoa học quản lý, luật học.
Tuy nhiên, các yếu tố chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu, nguồn lực là những điều kiện của tổ chức; đồng thời, nhấn mạnh tới mục tiêu chung, nguyên tắc hoạt động của tổ chức. Chính những điều này mới là điều quan trọng của quan niệm này về tổ chức. Cơ quan chuyên môn thuộc cơ quan hành chính ở địa phương tỉnh, huyện và tương đương không phải là cơ quan Hiến định, cơ quan này được thành lập bởi luật, các nghị định của Chính phủ như: Tại Điều 1 của Nghị định số 86-HĐBT ngày 04 tháng 8 năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) khái niệm: 9 “Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện nay gọi là phòng và ban…”. Đến năm 2004, Cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn cấp huyện được quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 172/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ khái niệm: “Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện gồm có Phòng và cơ quan tương đương Phòng (sau đây gọi chung là Phòng)”.
Nghị định này ra đời thay thế cho Nghị định số 86-HĐBT, và được khái niệm vắn tắt, ngắn gọn, nhưng vẫn giữ được nội hàm quy định về tổ chức của các cơ quan chuyên môn cấp huyện. Đồng thời, nội dung quy định này được giữ nguyên khi ban hành Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ thay thế cho Nghị định số 172/2004/NĐ-CP của Chính phủ. Năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 khái niệm cơ quan chuyên môn cấp huyện như sau: “Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện gồm có phòng và cơ quan tương đương phòng (sau đây gọi chung là phòng)” [8, tr. Quy định cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) cũng giữ nguyên quan điểm cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện giống như những quan điểm trên là bao gồm có các phòng và cơ quan tương đương phòng [18, tr.
18] và quan điểm này cũng được thể hiện trong Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BNV ngày 09 tháng 11 năm 2020 của Bộ nội vụ khái niệm: “Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện gồm có phòng và cơ quan tương đương phòng (sau đây gọi chung là phòng)” [2, tr. Nội dung thực hiện pháp luật về tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 1. Thực hiện pháp luật về cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Thực hiện pháp luật về cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn được thể hiện qua các văn bản quy phạm pháp luật như: Theo Điều 1 Quyết định số 152-CP ngày 09 tháng 4 năm 1981 của Hội đồng Chính phủ về tổ chức bộ máy và 10 nhiệm vụ, quyền hạn của các ban chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện quy định có 16 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện [3, tr. Đến năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) sắp xếp lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện theo hướng phân công cụ thể theo từng lĩnh vực tăng lên 09 cơ quan so với Quyết định số 152-CP ngày 09 tháng 4 năm 1981 của Hội đồng Chính phủ, do các ngành, các mặt công tác nằm trong các cơ quan chuyên môn được nâng lên, chia tách ra thành cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện.
Còn các cơ quan chuyên môn còn lại cơ bản giống nhau nhưng khác về tên gọi, cụ thể như sau: Điều 3 Nghị định số 86-HĐBT ngày 04 tháng 8 năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng Về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện quy định có 25 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện [4, tr. Đến năm 2004, Chính phủ sắp xếp, kiện toàn lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thống nhất trong cả nước có 12 cơ quan chuyên môn được quy định tại Điều 7 Nghị định số 172/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Mặt khác, tùy thuộc vào đặc điểm của từng địa phương có thêm 02 cơ quan chuyên môn, cụ thể được quy định tại Điều 8 Nghị định số 172/2004/NĐ-CP của Chính phủ là Phòng Tôn giáo và Phòng Dân tộc. Theo khoản 3, Điều 8 Nghị định số 172/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định: “Phòng Kinh tế: có thể tách thành 2 phòng riêng; tên gọi của Phòng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định”.
Đến năm 2008, Chính phủ tiếp tục sắp xếp lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện theo hướng sát nhập tinh gọn còn lại 10 cơ quan, cụ thể như sau: Theo Điều 7 Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, quy định: “Các cơ quan chuyên môn được tổ chức thống nhất ở các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh” gồm 10 phòng: 11 Phòng nội vụ, Phòng tư pháp, Phòng tài chính - kế hoạch, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Y tế, Thanh tra huyện, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân [6, tr. Ngày nay, theo quy định hiện hành theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2019), và quy định tại Điều 7 Nghị định số 37/2014/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 5, khoản 6 và khoản 7 Điều 1 Nghị định số 108/2020/NĐ-CP) quy định trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có các cơ quan chuyên môn sau được tổ chức thống nhất ở các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh vẫn đảm bảo, vẫn giữ 10 phòng chuyên môn theo cơ cấu cứng bao gồm: Phòng Nội vụ, Phòng Tư pháp, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Y tế, Thanh tra huyện, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hoặc Văn phòng Ủy ban nhân dân nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân và một số cơ quan chuyên môn khác để phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện theo quy định. Việc thực hiện pháp luật về cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện là một phần quan trọng trong quá trình quản lý nhà nước ở địa phương.