Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật thuế. Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật thuế trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật thuế trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƢ̣C HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ 1.
Khái quát chung về thuế và pháp luật thuế 1. Khái niệm và chức năng của thuế 1. Khái niệm Thuế là hiện tượng tất yếu, xuất hiện và tồn tại cùng với các hiện tượng kinh tế - xã hội khác. Sự xuất hiện, phát triển của thuế gắn với mỗi giai đoạn, lợi ích mà Nhà nước sử dụng nó làm công cụ điều tiết nguồn thu của nền kinh tế xã hội.
Thuế xuất hiện từ rất lâu, cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, ra đời do nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và sự tồn tại của nó không tách rời quyền lực Nhà nước. Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Hệ thống thuế khóa, các hình thức thuế khóa và pháp luật thuế ngày càng đa dạng, hoàn thiện cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các khoản đóng góp cho Nhà nước được xác định và được quy định công khai bằng luật pháp. Các khoản thuế được đóng góp bởi dân tạo thành quỹ tiền tệ của Nhà nước.
Cùng với sự hoàn thiện chức năng của Nhà nước, phạm vi sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước ngày càng mở rộng. Nó không chỉ đảm bảo chi tiêu để duy trì quyền lực của bộ máy Nhà nước, mà còn để chi tiêu cho các nhu cầu phúc lợi chung và kinh tế. Như vậy gắn liền với Nhà nước, thuế luôn là một vấn đề thời sự nóng bỏng đối với các hoạt động kinh tế xã hội và với mọi tầng lớp dân cư. Để đưa ra khái niệm về thuế hoàn toàn không đơn giản.
Các nhà kinh tế học đã có quá trình nghiên cứu sâu sắc ở nhiều khía cạnh khác nhau nhằm tìm khái niệm thuế theo cách đánh giá của mình. Mác viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước” [42]. Bằng cách định nghĩa khác, các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng thuế là “một hình 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thức phân phối thu nhập tài chính của Nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lại” [44]. Ở khía cạnh nghiên cứu thuế với tư cách là một nội dung điều chỉnh của luật pháp, các chuyên gia về luật thuế cũng đã nhận định "thuế là một trật tự xã hội đã được thiết lập hòa bình giữa chính phủ với cộng đồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa vụ thu, nộp vào ngân sách.
Thuế không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào giữa các bang hay vùng lãnh thổ" [77]. Có rất nhiều các quan điểm nhìn nhận thuế dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đứng trên góc độ tài chính, có thể xem xét thuế dưới khái niệm như sau: Thuế là một trong những biện pháp tài chính bắt buộc của Nhà nước nhằm động viên một số bộ phận có thu nhập từ lao động, từ của cải, từ vốn, từ các chi tiêu hàng hóa và dịch vụ, từ tài sản của các thể nhân và pháp nhân nhằm tập trung vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cho bộ máy Nhà nước và các nhu cầu chung của xã hội. Các khoản động viên qua thuế được thể chế hóa bằng luật. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội, được đặt ra bởi giai cấp thống trị đại diện quyền lực Nhà nước, cho nên bản chất của thuế gắn liền với bản chất giai cấp của Nhà nước.
“Thuế là một thực thể pháp lí nhân định” [58] nhưng sự ra đời và tồn tại của nó không phải là một sự áp đặt duy ý chí mà bị chi phối bởi các điều kiện kinh tế - xã hội và sự tác động có tính khách quan của sự vận động xã hội. Thuế là khoản đóng góp mang tính chất bắt buộc đối với cá nhân hay tổ chức, bằng tiền, hiện vật, một lần hay thường xuyên vào NSNN, được Nhà nước quy định bằng văn bản pháp luật để mọi tổ chức, cá nhân thuộc diện nộp thuế phải nộp vào NSNN và dùng để chi tiêu vào những việc công. Ở nước ta, Điều 80 Hiến pháp 1992 quy định “công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật”. Đây là căn cứ pháp lí quan trọng 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhất để Nhà nước ban hành các luật thuế và áp dụng cho các đối tượng trong diện nộp thuế.
Thuế là một hình thức phân phối xã hội và thu nhập quốc dân do các tổ chức kinh tế và người dân tạo ra, hình thành nên quĩ tập trung lớn nhất quốc gia (quĩ NSNN) nhằm tài trợ cho việc chi tiêu của Nhà nước. Thuế biểu hiện đặc biệt của mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các cơ sở kinh tế và các tổ chức xã hội, nó là một bộ phận thu nhập quốc dân được huy động nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước. Chính vì vậy, việc quy định, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các sắc thuế phải thuộc thẩm quyền tuyệt đối của cơ quan lập pháp - cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước quy định. Đây là thông lệ chung của các nước trên thế giới.
Ở nước ta, tại Điều 84 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế. Tuy nhiên, để điều chỉnh kịp thời các quan hệ thuế với tình hình thực tế, Quốc hội có thể giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ một số loại thuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghị quyết. Mặc dù, có nhiều cách định nghĩa về thuế như vậy nhưng có thể đưa ra một khái niệm chung về thuế như sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà các pháp nhân và thể nhân phải nộp cho NSNN phái sinh trên cơ sở văn bản pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Chức năng Thuế có chức năng đặc thù, cơ bản sau: Chức năng phân phối và phân phối lại: là chức năng cơ bản, đặc thù của thuế.
Từ lúc ra đời thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chính vào NSNN (có ở tất cả các kiểu Nhà nước).Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ra thuế.Thông qua chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự hoạt động thường xuyên và tồn tại của Nhà nước. Chức năng điều tiết đối với nền kinh tế. Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế (NNT). Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội.
Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng được nâng cao. Nhà nước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân. Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh doanh. Đặc điểm, phân loại thuế 1.
Đặc điểm Thuế là một trong những biện pháp tài chính bắt buộc nhưng phi hình sự của Nhà nước nhằm động viên một số bộ phận thu nhập từ lao động, từ của cải, từ vốn, từ các chi tiêu hàng hóa và dịch vụ, từ tài sản của các thể nhân và pháp nhân nhằm tập trung vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cho bộ máy nhà nước và các nhu cầu chung của xã hội. Các khoản động viên qua thuế được thể chế hóa bằng luật. Với nhận thức như vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau giữa thuế với các hình thức phân phối khác dựa trên những đặc điểm chủ yếu sau đây: 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc điểm thứ nhất: Thuế là một biện pháp tài chính của Nhà nước mang tính quyền lực, tính cưỡng chế, tính pháp lý cao nhưng sự bắt buộc này là phi hình sự. Quá trình động viên nguồn thu từ thuế của Nhà nước là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu một bộ phận thu nhập của các pháp nhân và thể nhân thành quyền sở hữu của Nhà nước.
Do đó, Nhà nước phải dùng quyền lực để thực hiện quyền chuyển đổi. Tính quyền lực tạo nên sự bắt buộc là một tất yếu khách quan, nhưng vì các hoạt động thu nhập của thể nhân và pháp nhân không gây cản trở cho xã hội nên tính bắt buộc này là phi hình sự. Vì vậy, có thể nói việc đánh thuế không mang tính hình phạt. Đặc điểm này được thể chế hóa trong Hiến pháp của mọi quốc gia, việc đóng góp thuế cho Nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc đối với công dân.
Mọi công dân làm nghĩa vụ đóng thuế theo những luật thuế được cơ quan quyền lực tối cao quy định và nếu không thi hành sẽ bị cưỡng chế theo những hình thức nhất định. Đặc điểm thứ hai: Thuế tuy là biện pháp tài chính của Nhà nước mang tính bắt buộc, song sự bắt buộc đó luôn luôn được xác lập trên nền tảng kinh tế-xã hội của người làm nhiệm vụ đóng thuế, do đó thuế bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố kinh tế và xã hội.