Chương 1: Cơ sở lý luận, pháp lý về thực hiện pháp luật lý lịch tư pháp Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương Chương 3: Phương hướng, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT LÝ LỊCH TƢ PHÁP 1. Khái quát về lý lịch tƣ pháp và thực hiện pháp luật về lý lịch tƣ pháp 1. Lý lịch tư pháp Lý lịch tư pháp có lịch sử phát triển từ rất sớm, ngay từ thời xa xưa, nhiều nước đã quy định việc ghi nhớ tội phạm bằng việc đánh dấu vào mặt, xăm lên mình những dấu ấn về những tội đã phạm phải,…tùy theo mức độ phạm tội. Dần theo sự phát triển của xã hội, để tránh làm đau đớn, phân biệt đối xử đối với những người phạm tội và để có những thông tin đầy đủ hơn về người phạm tội, phục vụ tốt hơn trong tố tụng, LLTP thành văn đã ra đời thay thế cho những hình thức ghi nhớ hình phạt nặng nề trong lịch sử.
Ở thời kỳ Pháp thuộc, Phòng lục sự là cơ quan lập, lưu giữ, cấp LLTP thông qua đạo luật ngày 05/8/1899 về “tư pháp lý lịch và phục quyền”. Ngày 01/9/1951, Vua Bảo Đại ban hành Dụ số 14 quy định chi tiết “về lý lịch tư pháp và phục quyền”, thuật ngữ lý lịch tư pháp chính thức được sử dụng và quy định trong văn bản quy phạm pháp luật tại nước ta [19]. Thuật ngữ "lý lịch tư pháp" được sử dụng với nhiều các cách gọi khác nhau ở mỗi nước. Ở các nước Phương Tây, tiếng Pháp có từ "casier judiciaire" được hiểu là ngăn tủ có chứa đựng hồ sơ về tư pháp, là nơi lưu giữ những thông tin về bản án hình sự, thông tin về hành chính, thương mại …; trong tiếng Anh có từ "Criminal records" nghĩa là sự ghi nhận án tích của 7 người bị kết án hình sự; ở Đức là việc đăng ký, lưu trữ, xử lý các thông tin về bản án hình sự của toà án, thông tin liên quan đến các quyết định của cơ quan công tố hình sự về việc truy tố đang thực hiện đối với một cá nhân, quyết định của cơ quan hành chính và toà án về vi phạm trong thương mại và công nghiệp [26].
Ở Việt Nam, LLTP được định nghĩa là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản [33]. Như vậy, định nghĩa LLTP bao gồm 02 nội dung: Thứ nhất là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án theo Bộ luật hình sự. Lý lịch là việc ghi lại trên giấy, trên sổ những thông tin về nhân thân, hoàn cảnh, các sự kiện chủ yếu của một cá nhân nào đó trong quá khứ, hiện tại và có thể trích xuất ra những thông tin khi cần thiết. Án tích được hiểu là dấu vết về án hình sự của người đã bị xử và chưa xoá án được ghi vào một quyển sổ gọi là lý lịch tư pháp để sau này, trong một số trường hợp, cần xem xét để đánh giá đạo đức hạnh kiểm, thái độ đối với pháp luật.
Trong lý lịch của bị can, bị cáo phải ghi rõ án tích (hiện nay dùng phổ biến từ tiền án). Khi quyết định hình phạt, toà án có thể coi việc một người sau khi đã kết án lại phạm tội mới là một tình tiết tăng nặng. Trong một số trường hợp được quy định cụ thể trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, án tích là cơ sở để áp dụng luật về tội nặng hơn đối với người phạm tội. Trong một số trường hợp, án tích về tội này hay tội khác sẽ dẫn đến việc hạn chế người mang án quyền lựa chọn nơi cư trú; còn án tích về tội vụ lợi có thể 8 sẽ là một trở ngại đối với việc được nhận vào làm những việc có liên quan đến trách nhiệm vật chất [54, tr.
Như vậy, nội dung ở đây là sự ghi chép lại những thông tin về việc một cá nhân nào đó bị Tòa án kết án, tuyên là có tội trong lĩnh vực hình sự. Thứ hai là việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản theo luật phá sản. Không chỉ ghi nhớ thông tin về án tích trong bản án hình sự mà LLTP còn ghi nhớ thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã. Điều này là phù hợp bởi lẽ, LLTP sẽ được sử dụng cả khi các cá nhân có nhu cầu thành lập doanh nghiệp hay khi các cơ quan yêu cầu cá nhân chứng minh lý lịch để giao cho họ đảm nhận các vị trí quan trọng.
Khi đó, LLTP sẽ giúp cơ quan quản lý dễ dàng hơn trong việc điều động, sử dụng nhân sự cho phù hợp. Trên thực tế, tồn tại khá nhiều định nghĩa về thuật ngữ LLTP trong các văn bản khác nhau, nhưng về bản chất của các thuật ngữ này tương tự nhau là đều ghi nhận thông tin về hình phạt mà cơ quan có thẩm quyền đã tuyên đối với một cá nhân liên quan chủ yếu đến bản án hình sự. Theo quan điểm của tác giả, LLTP là việc ghi chép đầy đủ thông tin về tình trạng thi hành án, về các tội phạm trước đây của một cá nhân khi họ bị kết án bởi một bản án hình sự có hiệu lực và thông tin về việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. Pháp luật về lý lịch tư pháp Pháp luật về LLTP trải qua quá trình phát triển lâu dài và được chia theo nhiều giai đoạn.
Giai đoạn thời kỳ Pháp thuộc và miền Nam Việt Nam trước năm 1975, pháp luật về LLTP được quy định, tổ chức tương đối chặt 9 chẽ từ trung ương tới địa phương. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1955, do điều kiện kháng chiến nên việc quản lý LLTP ít được chú ý. Giai đoạn từ năm 1956 đến năm 1993, tuy pháp luật về LLTP đã được quy định khá chi tiết nhưng lại không được quản lý LLTP một cách riêng biệt. Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2005, chủ thể quản lý LLTP thay đổi sang cơ quan Bộ Tư pháp, chưa có thêm những quy định chi tiết và vẫn chỉ dừng lại ở các quy định chung.
Giai đoạn từ năm 2009 đến nay, Luật LLTP ra đời và được hoàn chỉnh hơn về các quy phạm pháp luật LLTP [29]. Pháp luật dưới góc độ luật học được hiểu là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí chung của giai cấp thống trị, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình [28]. Pháp luật về LLTP là những quy định của nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. Cụ thể là điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa cơ quan nhà nước với các cá nhân, tổ chức, giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong quá trình xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu LLTP và cấp Phiếu LLTP.
Pháp luật về LLTP là một bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật Việt Nam, xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội, ổn định xã hội, giữ vững trật tự quản lý xã hội của nhà nước. Pháp luật về LLTP bao hàm tất cả các quy phạm pháp luật điều chỉnh về trình tự, thủ tục cung cấp, tiếp nhận, cập nhật thông tin LLTP; lập LLTP; tổ chức và quản lý cơ sở dữ liệu LLTP; cấp Phiếu LLTP; quản lý nhà nước về LLTP. 10 Như vậy, pháp luật về LLTP đã từng bước được xây dựng và dần đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao chất lượng theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp; là những quy phạm pháp luật, cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh các quan hệ pháp lý phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lý nhà nước về LLTP. Thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp Hiện nay có khá nhiều quan điểm pháp lý về thực hiện pháp luật như “thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật”[45, tr.369-371] hay “thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [28, tr.
Các quy phạm pháp luật muốn đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả thì cần được thực hiện thông qua hoạt động có mục đích của các chủ thể vào các quan hệ xã hội. Hơn nữa thực hiện pháp luật còn là yếu tố không thể thiếu của cơ chế điều chỉnh pháp luật, giúp phát huy vai trò của pháp luật và được các chủ thể tiệp nhận, tôn trọng và tự giác thực hiện. Như vậy, thực hiện pháp luật là tổng thể các hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật thành các hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể qua các hoạt động cụ thể nhằm phát huy vai trò của pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.