Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI 1. KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI 1. Khái niệm giới, bình đẳng giới và pháp luật về bình đẳng giới 1. Khái niệm giới Giới là một khoa học nghiên cứu sự khác biệt về sinh học và mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ; những nguyên nhân đưa đến sự thay đổi của mối quan hệ đó trong từng nền văn hoá, từng thời đại lịch sử; những điều kiện xã hội tạo nên và duy trì lâu dài sự bất bình đẳng nam nữ và những giải pháp để xoá bỏ sự bất bình đẳng đó.
Theo quan niệm của nhiều nhà khoa học, giới và giới tính là hai khái niệm cặp đôi, có liên quan chặt chẽ với nhau. Vì vậy, để hiểu được khái niệm giới, trước hết, phải tìm hiểu khái niệm giới tính. Giới tính là một khái niệm ra đời từ môn sinh vật học, chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học. Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người,di truyền nòi giống.
Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính. Ví dụ như chỉ nữ giới mới có khả năng mang thai và sinh con hoặc chỉ nam giới mới có khả năng sản xuất tinh trùng cho quá trình thụ thai. Về mặt sinh học, những đặc điểm về giới tính là bẩm sinh và không thể thay đổi được để phân biệt người nam giới và người nữ giới. Những đặc điểm này là chung cho mọi người nam giới và nữ giới thuộc bất kỳ dân tộc nào, chủng tộc nào, sinh sống bất kỳ nơi nào trên trái đất này ở mọi nền văn hoá, mọi chế độ chính trị và ở mọi thời đại.
Giới là khái niệm ra đời từ môn xã hội học. Năm 2006, lần đầu tiên, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xem xét, thông qua 10 Luật Bình đẳng giới trên cơ sở ý kiến của các nhà khoa học, chuyên gia,các cơ quan, tổ chức hữu quan và đóng góp của nhân dân. Luật đã quy định tại Điều 5, giới được giải thích là khái niệm “chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”. Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam giới và phụ nữ.
Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao động , phân chia các nguồn của cải, vật chất, tinh thần tức là cách thức đáp ứng nhu cầu của nam và nữ trong xã hội. Ví dụ: Theo quan niệm và thói quen đã có từ lâu ở một số nước, một số khu vực thì phụ nữ phải làm hầu hết các công việc trong nhà như chăm sóc con cái, nấu ăn, phục vụ chồng… Còn nam giới thì có trách nhiệm lao động, sản xuất để nuôi gia đình và làm các công việc xã hội. Khi sinh ra, con người chưa có trong bản thân sự phân biệt giới mà họ dần tiếp thu và chấp nhận từ nền nếp của gia đình , quy ước của xã hội và chuẩn mực của nền văn hoá. Như vậy, khi nói khái niệm giới tính là nói đến đặc điểm của con người do tự nhiên quy định.
Nó hầu như bất biến đối với nam và nữ, xét cả về không gian và thời gian. Còn nói đến khái niệm giới là nói đến địa vị xã hội, hành vi ứng xử của nam giới và nữ giới do điều kiện xã hội tạo nên. Địa vị xã hội và hành vi đó không bất biến mà thay đổi do sự thay đổi của điều kiện xã hội. Ví dụ: so với cách đây hơn 60 năm về trước, đặc điểm giới tính của phụ nữ nước ta hiện nay không có sự thay đổi nhưng đặc điểm về giới- tức là địa vị xã hội so với nam giới- đã có sự thay đổi căn bản bởi vì, kể từ cách mạng tháng Tám năm 1945, điều kiện xã hội nước ta đã thay đổi toàn diện và sâu sắc.
Trước đây, phụ nữ chỉ ở nhà làm công việc nội trợ và nuôi con. Nhưng ngày nay, phụ nữ đã có mặt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, đạt những thành quả được xã hội ghi nhận thậm chí nhiều người giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Mặc dù, có nội hàm khác nhau nhưng giới tính và giới có mối liên quan với nhau. Giới tính là tiền đề sinh học của giới; Nó là dấu hiệu đầu tiên và lâu 11 dài để phân biệt nam và nữ.Tìm hiểu những đặc điểm giới tính cho phép hiểu rõ năng lực, sở trường cũng như nhu cầu riêng của nam và nữ; trên cơ sở đó để phân công lao động phù hợp nhằm phát huy hiệu quả năng lực và đáp ứng nhiều hơn nhu cầu riêng của nam và nữ.
Khái niệm bình đẳng giới Bình đẳng là một khái niệm được tiếp cận từ nhiều ngành khoa học khác nhau. Trong khoa học pháp lý, bình đẳng được quan niệm là một trạng thái pháp lý được pháp luật xác lập, giữa các chủ thể có sự ngang bằng về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm mà không phụ thuộc vào sự khác biệt của các chủ thể đó. Một trong các quyền bình đẳng quan trọng nhất là quyền bình đẳng giữa nam và nữ. Bình đẳng nam -nữ là vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm sâu sắc của các quốc gia và của cộng đồng quốc tế.
Lịch sử phát triển của xã hội cho thấy, tiến bộ của xã hội sẽ chậm lại nếu trong xã hội có một bộ phận đông người có quyền bị hạn chế hoặc loại trừ. Tác động tiêu cực đối với bộ phận đó sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến toàn xã hội. Như vậy, việc đối xử không bình đẳng đối với phụ nữ không chỉ làm giảm thiểu sự đóng góp của phụ nữ vào sự phát triển của xã hội mà còn ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống gia đình cũng như việc chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển của thế hệ sau. Có thể nói, quyền bình đẳng nam- nữ từ lâu đã được các nhà khoa học, các nhà hoạt động chính trị- xã hội nghiên cứu; được các tổ chức quốc tế thừa nhận trong các văn kiện quan trọng ngay khi mới thành lập.
Cùng với sự phát triển theo thời gian, quyền bình đẳng giữa nam và nữ được xác định trong nội hàm của khái niệm “bình đẳng giới”. Hiện nay, khái niệm này cũng có những ý kiến, quan điểm khác nhau. Có ý kiến cho rằng: Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau của các đặc điểm giống và khác nhau giữa nam giới và nữ giới, biểu đạt sự đối xử như nhau của xã hội đối với nam giới và nữ giới; là trạng thái xã hội trong đó nam giới và nữ giới có vi trí như nhau, có các cơ hội như nhau để 12 phát triển đầy đủ tiềm năng của mình, sử dụng nó cho sự phát triển của xã hội và được hưởng lợi từ sự phát triển của kết quả đó. Ý kiến khác cho rằng: Bình đẳng giới được hiểu là bình đẳng về quyền cơ bản và về cơ hội phát triển cho cả nam giới và nữ giới.
Một ý kiến nữa cho rằng: Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới. Luật bình đẳng giới đưa ra khái niệm về bình đẳng giới như sau: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”. Nội dung bình đẳng giới được thể hiện ở các khía cạnh sau: Thứ nhất, bình đẳng về vị trí, vai trò của nữ giới và nam giới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Điều đó biểu biện ở sự bình đẳng về quyền và bảo vệ các quyền của nữ giới và nam giới trong đó có quyền tự do, tự quyết, quyền được tôn trọng danh dự và nhân phẩm, quyền được tự do lựa chọn trong hôn nhân, trong tìm việc làm, trong việc quyết định sinh con… Thứ hai, bình đẳng về cơ hội phát huy năng lực.
Để có được điều này, cần tạo cơ hội cho cả nam giới và nữ giới trong giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hoá cũng như nâng cao năng lực trong các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội. Bên cạnh đó, cần gắn liền cơ hội bình đẳng với điều kiện phù hợp để nữ giới thực hiện sự bình đẳng thực sự so với nam giới, dù những bất lợi này có thể là do đặc điểm giới tính hay do định kiến giới tạo nên. Thứ ba, bình đẳng trong việc ra quyết định. Nữ giới và nam giới cần được bàn bạc, cùng quyết định việc của gia đình, cơ quan và cộng đồng.
Nữ giới cần được tham gia nhiều hơn ở các vị trí lãnh đạo và có vai trò trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Thứ tư, bình đẳng trong thụ hưởng lợi ích của sự phát triển: tạo điều kiện để nữ giới được hưởng những lợi ích vật chất như dịch vụ y tế, giáo dục… và lợi ích tinh thần như văn hoá, giải trí… 13 Ý nghĩa sâu xa của bình đẳng giới không chỉ là tạo cơ hội cho phụ nữ được hội nhập đầy đủ vào đời sống xã hội vì lợi ích của bản thân họ mà còn là điều kiện cho sự phát triển hài hoà của gia đình, sự công bằng, tiến bộ của xã hội và sự đi lên của đất nước. Vì vậy, thực hiện tốt quyền phụ nữ và nâng cao bình đẳng giới là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển của mọi quốc gia. Khái niệm pháp luật về bình đẳng giới Có thể nói, bình đẳng là nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội.
Song nhu cầu không phải là một “cái” luôn được đáp ứng và con người có thể đạt được mà chỉ có những nhu cầu nào được nâng lên thành “quyền” thì con người mới có thể yêu cầu đáp ứng và đạt được điều mình mong muốn. Công cụ, phương tiện để biến nhu cầu thành quyền chính là pháp luật do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện theo một trình tự nhất định nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ bình đẳng giới nói riêng.