Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ĐBSCL - Trần Thị Vành Khuyên

Nghiên cứu chính sách đào tạo nghề hiệu quả cho lao động nông thôn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đánh giá thực trạng và đề xuất hướng cải thiện.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2019

228
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chính sách đào tạo nghề lao động nông thôn ĐBSCL

Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một chủ trương chiến lược, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và những tác động của biến đổi khí hậu ĐBSCL, việc trang bị kỹ năng nghề cho người lao động trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Mục tiêu của chính sách không chỉ dừng lại ở việc giải quyết việc làm mà còn hướng đến chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng nông thôn mới. Việc thực hiện chính sách này, đặc biệt là theo tinh thần Đề án 1956, đã và đang tạo ra những chuyển biến tích cực, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều thách thức cần được giải quyết một cách khoa học và hệ thống.

1.1. Vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển kinh tế xã hội

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (LĐNT) là yếu tố quyết định sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp. Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, “Giải quyết việc làm cho nông dân là nhiệm vụ ưu tiên xuyên suốt trong mọi chương trình phát triển kinh tế - xã hội”. Việc nâng cao tay nghề giúp người lao động tăng năng suất, cải thiện thu nhập, góp phần trực tiếp vào công cuộc giảm nghèo bền vững. Một lực lượng lao động có kỹ năng sẽ thu hút đầu tư, thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề đào tạo nghề phi nông nghiệp như chế biến nông sản, du lịch sinh thái. Hơn nữa, đây là giải pháp nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng ĐBSCL, đảm bảo an sinh xã hội và ổn định chính trị tại địa phương.

1.2. Cơ sở pháp lý và mục tiêu của Đề án 1956 tại ĐBSCL

Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là Đề án 1956) là cơ sở pháp lý quan trọng nhất. Mục tiêu của Đề án là nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho LĐNT. Tại ĐBSCL, Đề án tập trung vào các ngành nghề thế mạnh như nuôi trồng thủy sản, chế biến nông sản, và các ngành nghề phục vụ nông nghiệp công nghệ cao. Theo báo cáo tổng kết, tỷ lệ lao động nông thôn sau học nghề có việc làm mới hoặc tăng năng suất đạt khoảng 80% [89], [90], cho thấy những kết quả tích cực ban đầu trong việc thực hiện chính sách quan trọng này.

II. Top 5 thách thức khi thực hiện đào tạo nghề LĐNT ĐBSCL

Mặc dù đạt được những thành tựu ban đầu, việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại ĐBSCL vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế. Những thách thức này xuất phát từ cả yếu tố khách quan lẫn chủ quan, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và mục tiêu cuối cùng của chính sách. Một nghiên cứu của tổ chức Oxfam đã chỉ ra rằng 1/3 số lớp đào tạo nghề được đánh giá là hiệu quả thấp, và tỷ lệ lao động thoát nghèo sau học nghề chỉ chiếm 4-5% [31]. Việc nhận diện và phân tích sâu sắc các rào cản này là bước đi tiên quyết để đề xuất các giải pháp cải thiện, đảm bảo chính sách thực sự đi vào đời sống và mang lại lợi ích thiết thực cho người dân trong vùng.

2.1. Hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực và nhận thức người dân

Một trong những rào cản lớn nhất là chất lượng nguồn nhân lực đầu vào rất thấp. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chỉ số này của Việt Nam chỉ đạt 3.79/10 điểm [56]. Phần lớn LĐNT tại ĐBSCL có trình độ học vấn thấp, quen với tư duy sản xuất nhỏ lẻ, kinh nghiệm chủ nghĩa, gây khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng mới. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận người dân về tầm quan trọng của học nghề còn hạn chế. Họ có xu hướng ưu tiên các công việc thời vụ có thu nhập tức thời hơn là đầu tư thời gian cho các khóa đào tạo dài hạn, dẫn đến tình trạng khó tuyển sinh và tỷ lệ bỏ học cao tại các trung tâm dạy nghề.

2.2. Sự thiếu kết nối giữa đào tạo và thị trường lao động

Sự thiếu liên kết doanh nghiệp trong quá trình đào tạo là một hạn chế nghiêm trọng. Nhiều chương trình đào tạo được xây dựng dựa trên năng lực sẵn có của cơ sở dạy nghề thay vì xuất phát từ nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Điều này dẫn đến tình trạng lao động sau đào tạo không tìm được việc làm đúng ngành nghề, hoặc kỹ năng không đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng. Việc chuyển đổi nghề nghiệp sau đào tạo gặp nhiều khó khăn, gây lãng phí nguồn lực nhà nước và thời gian của người học. Cần có một cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn giữa các Sở LĐTBXH các tỉnh miền Tây, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp.

2.3. Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất còn nhiều bất cập

Nguồn kinh phí dành cho chính sách đào tạo nghề dù đã được quan tâm nhưng vẫn còn hạn hẹp và phân bổ chưa thực sự hiệu quả. Cơ sở vật chất, trang thiết bị tại nhiều trung tâm dạy nghề cấp huyện còn lạc hậu, không theo kịp sự phát triển của công nghệ sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Đội ngũ giáo viên dạy nghề vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về kỹ năng thực hành và kinh nghiệm thực tiễn tại doanh nghiệp. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo và khả năng giải quyết việc làm sau khi học viên tốt nghiệp.

III. Phương pháp tối ưu quy trình thực hiện chính sách đào tạo nghề

Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ĐBSCL, việc hoàn thiện quy trình tổ chức là yêu cầu cấp bách. Một quy trình khoa học, đồng bộ sẽ đảm bảo chính sách được triển khai thông suốt từ trung ương đến địa phương, khắc phục các hạn chế đã được chỉ ra. Luận án của tác giả Trần Thị Vành Khuyên nhấn mạnh quy trình này bao gồm các bước cốt lõi: xây dựng kế hoạch, tổ chức bộ máy, tuyên truyền, huy động nguồn lực và kiểm tra, giám sát. Tối ưu hóa từng khâu trong quy trình sẽ tạo ra một cơ chế vận hành hiệu quả, giúp chính sách thực sự phát huy tác dụng trong việc hỗ trợ lao động nông thôn.

3.1. Đổi mới công tác lập kế hoạch và khảo sát nhu cầu đào tạo

Công tác lập kế hoạch cần phải xuất phát từ việc điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề của người lao động và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp một cách bài bản. Thay vì áp đặt các ngành nghề từ trên xuống, các Sở LĐTBXH các tỉnh miền Tây cần phối hợp với địa phương để xác định các ngành nghề phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của từng vùng, đặc biệt là các ngành có tiềm năng như nuôi trồng thủy sản bền vững hay chế biến nông sản theo chuỗi giá trị. Kế hoạch phải linh hoạt, có khả năng điều chỉnh để thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.

3.2. Nâng cao hiệu quả tuyên truyền và phổ biến chính sách

Công tác tuyên truyền cần được đổi mới về nội dung và hình thức để tiếp cận hiệu quả hơn với LĐNT. Nội dung tuyên truyền không chỉ dừng lại ở việc phổ biến quyền lợi mà cần tập trung vào các mô hình thành công, những tấm gương sau học nghề đã chuyển đổi nghề nghiệp và có thu nhập ổn định. Sử dụng các kênh truyền thông đa dạng như truyền thanh xã, các buổi sinh hoạt tại hợp tác xã, các nền tảng mạng xã hội để thông tin về chính sách hỗ trợ lao động nông thôn đến được với mọi người dân. Qua đó, thay đổi nhận thức và khuyến khích họ chủ động tham gia học nghề để cải thiện cuộc sống.

IV. Bí quyết nâng cao chất lượng đào tạo liên kết doanh nghiệp

Chất lượng đầu ra của lao động là thước đo thành công của chính sách đào tạo nghề. Để người lao động sau khi tốt nghiệp có thể tự tin tham gia thị trường lao động hoặc tự tạo việc làm, chất lượng chương trình đào tạo và sự gắn kết với thực tiễn sản xuất phải được đặt lên hàng đầu. Điều này đòi hỏi sự đổi mới toàn diện từ chương trình, phương pháp giảng dạy đến việc xây dựng mô hình liên kết doanh nghiệp một cách thực chất. Đây là giải pháp then chốt để giải quyết bài toán “đào tạo xong không có việc làm”, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL.

4.1. Xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng nông nghiệp công nghệ cao

Các chương trình đào tạo cần được cập nhật, đổi mới theo hướng hiện đại, gắn liền với yêu cầu của nông nghiệp công nghệ cao và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Nội dung đào tạo cần tập trung vào kỹ năng thực hành, giảm bớt lý thuyết suông. Các trung tâm dạy nghề cần tích cực hợp tác với các viện nghiên cứu, chuyên gia để xây dựng giáo trình phù hợp với các mô hình sản xuất tiên tiến như nông nghiệp hữu cơ, VietGAP, hay ứng dụng tự động hóa trong chế biến nông sản. Đào tạo phải gắn với thực hành tại các mô hình sản xuất, trang trại, hợp tác xã kiểu mới để học viên có thể tiếp cận công nghệ ngay trong quá trình học.

4.2. Tăng cường mô hình liên kết ba nhà Nhà nước Nhà trường Doanh nghiệp

Mô hình liên kết doanh nghiệp phải được thực hiện một cách chặt chẽ và thực chất. Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xây dựng chương trình, góp ý giáo trình, cử chuyên gia tham gia giảng dạy và tạo điều kiện cho học viên thực tập. Về phía Nhà nước, cần có chính sách khuyến khích, ưu đãi về thuế, tín dụng cho các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Cơ sở đào tạo đóng vai trò cầu nối, đảm bảo chương trình đào tạo bám sát yêu cầu của doanh nghiệp. Mô hình này không chỉ đảm bảo đầu ra cho người học mà còn giúp doanh nghiệp có được nguồn lao động chất lượng, phù hợp ngay từ đầu.

4.3. Đa dạng hóa các hình thức đào tạo nghề phi nông nghiệp

Bên cạnh các nghề nông nghiệp, cần đẩy mạnh đào tạo nghề phi nông nghiệp để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Các ngành nghề như du lịch cộng đồng, sửa chữa máy nông nghiệp, cơ khí nhỏ, may công nghiệp, thủ công mỹ nghệ... có tiềm năng lớn trong việc tạo việc làm tại chỗ, đặc biệt cho lao động nữ và lao động trong thời gian nông nhàn. Việc đa dạng hóa ngành nghề đào tạo giúp LĐNT có nhiều lựa chọn hơn để chuyển đổi nghề nghiệp, giảm sự phụ thuộc vào nông nghiệp vốn đang chịu nhiều rủi ro từ thiên tai và biến đổi khí hậu ĐBSCL.

V. Đánh giá kết quả thực hiện chính sách tại các tỉnh miền Tây

Sau gần một thập kỷ triển khai Đề án 1956, chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại các tỉnh ĐBSCL đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào việc thay đổi bộ mặt nông thôn. Chính sách đã tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của người dân, từng bước nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, việc thực hiện chính sách vẫn còn những hạn chế cần được đánh giá khách quan để rút ra bài học kinh nghiệm, làm cơ sở cho việc hoàn thiện chính sách trong giai đoạn tiếp theo, hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vữngxây dựng nông thôn mới hiệu quả hơn.

5.1. Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu lao động sau đào tạo

Một trong những thành công nổi bật là chính sách đã góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Hàng triệu lao động đã được hỗ trợ học nghề, trong đó một bộ phận không nhỏ đã thành công trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, tìm được việc làm trong các khu công nghiệp, doanh nghiệp dịch vụ hoặc tự khởi nghiệp. Điều này không chỉ giúp tăng thu nhập cho các hộ gia đình mà còn giảm áp lực lao động trong nông nghiệp, tạo điều kiện để tái cơ cấu sản xuất theo hướng hàng hóa, quy mô lớn, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của toàn vùng.

5.2. Tác động của chính sách đến giảm nghèo bền vững và nông thôn mới

Kết quả đào tạo nghề đã có những tác động tích cực đến chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vữngxây dựng nông thôn mới. Lao động sau khi có tay nghề đã cải thiện năng suất, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao hơn, từ đó tăng thu nhập và thoát nghèo. Nhiều mô hình kinh tế hiệu quả từ các hợp tác xã, tổ hợp tác đã được hình thành bởi những lao động được đào tạo bài bản. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Oxfam, tác động đến giảm nghèo chưa thực sự như kỳ vọng, đòi hỏi cần có sự lồng ghép tốt hơn giữa đào tạo nghề với các chính sách tín dụng, hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

13/10/2025
Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở vùng đồng bằng sông cửu long

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐTN cho LĐNT là một nội dung được quan tâm sâu sắc bởi lẽ đây không chỉ là vấn đề liên quan đến cuộc sống của người LĐNT mà còn liên quan đến phát triển nguồn nhân lực quốc gia – một nguồn lực vô cùng quan trọng của bất kỳ một đất nước nào. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về ĐTN nói chung, ĐTN cho LĐNT nói riêng được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý cả trong và ngoài nước chú trọng. Trong phạm vi của luận án, phần tổng quan tình hình nghiên cứu tác giả chỉ tập trung giới thiệu một số công trình tiêu biểu liên quan đến thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT. Các công trình nghiên cứu liên quan đến thực hiện chính sách công Chính sách công là một khoa học được hình thành ở các nước phát triển cho nên có nhiều công trình trên thế giới nghiên cứu về chính sách nói chung, thực thi chính sách nói riêng.

Theo tác giả thống kê, có một số công trình nghiên cứu liên quan đến thực thi chính sách như sau: 1. Các công trình trên thế giới Bài viết Experimentation and Learning in Public Policy Implementation: Implications for Public Management (Thực nghiệm và học tập trong thực thi chính sách: Những hàm ý cho quản lý công) của Elizabeth Eppel, David Turner and Amanda Wolf (2011), Institute of Public Policy Studies (Viện nghiên cứu chính sách) [59]. Theo bài viết này, thực thi chính sách vốn là phức tạp cho dù mục tiêu chính sách được tuyên bố phức tạp hay đơn giản. Có hai mô hình thiết kế và thực thi chính sách trái ngược đó là, mô hình thiết kế và thực thi chính sách trung tâm cơ quan và mô hình thiết kế và thực thi 12 chính sách thực nghiệm.

Những đặc điểm của thực thi chính sách, các nhân tố hỗ trợ và vai trò của trung tâm cũng là những nội dung được tác giả trình bày. Bài viết Public Policy: Implementation Approaches (Chính sách công: các phương pháp tiếp cận thực thi) của Basir Chand (2009), the Statesman Institute of public Policy (Viện chính sách công Statesman), Islamabad [58]. Trên cơ sở so sánh hai phương pháp tiếp cận thực thi chính sách công là phương pháp trên xuống và phương pháp dưới lên, tác giả đề xuất vận dụng thêm các phương pháp khác như phương pháp cơ cấu, phương pháp thủ tục, phương pháp hành vi và phương pháp chính trị để thấu hiểu bản chất của quá trình thực thi chính sách công. Bài viết Top-Down and Bottom-Up Approaches to Implementation Research: A Critical Analysis and Suggested Synthesis (Cách tiếp cận thực thi chính sách từ trên xuống và từ dưới lên: Phân tích phản biện và tổng hợp đề nghị) của Sabatier (1986) [64].

Tác giả đã phân tích khá sâu sắc hai mô hình triển khai chính sách đó là mô hình từ trên xuống và mô hình từ dưới lên. Theo Sabatier, mô hình từ trên xuống có ưu điểm là có thể xác định một cách rõ ràng những yếu tố tác động đến đầu ra của chính sách, giúp nhà nước xác định rõ mục tiêu đạt được cũng như nguồn lực cần huy động trong quá trình thực thi chính sách từ đó điều chỉnh hành vi của chủ thể tham gia thực thi. Mô hình này có nhược điểm là dễ tạo ra “sự căng thẳng” của các chủ thể thực thi và không tính toán hết các yếu tố tác động đến chính sách. Đối với mô hình từ dưới lên, Sabatier cũng chỉ ra một số ưu điểm như: cho phép huy động mạng lưới tham gia thực thi lớn và huy động được nhiều nguồn lực khác để đạt mục tiêu không chỉ chính thống mà tất cả các mục tiêu có thể từ chính sách mang lại, vì có sự tham gia đông đảo nên sự tương tác diễn ra dễ dàng hơn.

Bên cạnh đó mô hình này có những hạn chế như dễ mất đi vai trò của cấp trung ương do tập trung vào cái gọi là “từ dưới”, mô hình này cũng bỏ qua những 13 yếu tố trực tiếp và gián tiếp tác động đến hành vi của chủ thể tham gia thực thi. Bài viết The Policy Implementation Process (Quá trình thực thi chính sách) của Smith (1973) [65] rất có giá trị khi đã phác thảo quy trình thực thi chính sách gồm có bốn yếu tố quan trọng đó là chính sách đã được ban hành, cơ quan thực thi, các nhóm tham gia và các yếu tố thuộc về môi trường của chính sách. Ngoài ra theo Smith, trong quá trình thực thi chính sách, bốn yếu tố trên tương tác qua lại lẫn nhau tạo nên “sự căng thẳng”. Dựa trên ma trận về “sự căng thẳng” của Zollschan, Smith đã xây dựng ma trận mười loại căng thẳng.

Điều này có ý nghĩa trong khi tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến “sự cẳng thẳng” và cách thức điều phối chúng. Với những lược khảo trên, có thể thấy các công trình trên thế giới liên quan đến thực thi chính sách công khá phong phú với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, các tác giả đã hình thành nên lý luận chung về thực thi chính sách công. Tác giả Michael Howlett, M.Ramesh, Alberta, Anthony Joseph đưa ra các khái niệm về thực thi chính sách; trong khi đó Basir Chand, Sabatier, Millicent Addo đều khẳng định có hai mô hình cơ bản triển khai chính sách đó là mô hình từ trên xuống và mô hình từ dưới lên.

Bên cạnh đó, một số tác giả còn đề xuất vận dụng thêm các phương pháp thực thi khác như phương pháp tổng hợp, phương pháp cơ cấu, phương pháp thủ tục… Đặc biệt, tác giả Smith đã phác thảo quy trình thực thi chính sách với các bước cơ bản và xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách bao gồm bản thân chính sách đã được ban hành, cơ quan thực thi, nhóm tham gia và các yếu tố thuộc về môi trường. Đây là những cơ sở lý luận có giá trị tham khảo rất lớn cho luận án. Các công trình trong nước Sách chuyên khảo Hoạch định và thực thi chính sách của tác giả Lê Như Thanh và Lê Văn Hòa, nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật, 2016 [38]. Tác 14 giả đã cung cấp một hệ thống cở lý luận khá đầy đủ về hoạch định và thực thi chính sách – hai giai đoạn vô cùng quan trọng của chu trình chính sách công.

Đặc biệt, trong tác phẩm này, những vấn đề lý luận về thực thi chính sách được tiếp cận với nhiều điểm mới và khá chi tiết. Lần đầu tiên các kĩ thuật thực thi chính sách công như chương trình, dự án được trình bày một cách hệ thống. Đặc biệt, cách tiếp cận quy trình triển khai thực thi chính sách bao gồm 3 bước cơ bản: xây dựng và ban hành văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách; tổ chức thực hiện văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách và sơ kết, tổng kết thực hiện văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách – là rất logic và phù hợp với thực tiễn nước ta hiện nay. Cuốn sách Đại Cương về chính sách công của tác giả Ngô Hoài Sơn, nhà xuất bản Lao động, 2016 [36].

Tác giả đã tổng hợp những kiến thức của một số nhà nghiên cứu trên thế giới về chính sách công với cách tiếp cận hết sức sáng tạo. Nội dung cuốn sách đề cập đến nhiều nội dung của chính sách công trong đó, tác giả trình bày những vấn đề liên quan đến thực thi chính sách gồm quy trình thực thi chính sách, mô hình triển khai chính sách với việc đánh giá ưu và nhược điểm của mỗi mô hình, những rào cản trong việc triển khai chính sách, khung thực thi chính sách với bốn yếu tố: động cơ, thông tin, quyền lực và sự tương tác. Cách tiếp cận lý luận về thực thi chính sách của tác giả có khác so với các nhà nghiên cứu ở trong nước hiện nay và điều này giúp bổ sung thêm cho khoa học chính sách công nước ta hiện nay. Cuốn sách Chính sách công – Những vấn đề cơ bản của tác giả Nguyễn Hữu Hải, nhà xuất bản Chính trị quốc gia – sự thật, 2014 [16].

Cuốn sách cung cấp nhiều nội dung liên quan đến chính sách công đồng thời tác giả trình bày khá chi tiết chu trình chính sách công với ba giai đoạn cơ bản đó là: hoạch định chính sách, thực thi chính sách và đánh giá chính sách. Đặc biệt, tác giả đã khái quát những vấn đề lý luận về tổ chức thực thi chính sách như đưa ra các quan niệm về thực thi chính sách, vị trí, ý nghĩa của tổ chức thực 15 thi chính sách, các bước tổ chức thực thi chính sách, các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách, yêu cầu đối với công tác tổ chức thực thi chính sách, các hình thức tổ chức thực thi, phương pháp tổ chức thực thi… Trong đó, cuốn sách đã đưa ra quy trình tổ chức thực thi chính sách bao gồm 5 bước cơ bản: (1) xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; (2) phổ biến tuyên truyền chính sách; (3) phân công, phối hợp thực hiện chính sách; (4) đôn đốc thực hiện chính sách; (5) đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm. Cách tiếp cận này cũng có giá trị tham khảo rất lớn đối với luận án. Cuốn sách Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách của tác giả Lê Chi Mai, nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 [25].

Đây là công trình cung cấp nhiều nội dung liên quan đến luận án như khái niệm và vai trò của giai đoạn thực thi chính sách, các yếu tố tác động đến việc thực thi chính sách, các hình thức thực thi chính sách, công tác tổ chức thực thi chính sách, lựa chọn phương pháp thực thi, điều kiện thực thi chính sách. Luận án tiến sỹ Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh Tây Bắc đến năm 2020 của tác giả Nguyễn Đức Thắng, Học viện Hành chính quốc gia, 2016 [40]. Tác giả đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo trong đó chỉ ra các bước trong quy trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh Tây Bắc. Thông qua việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau (phương pháp khảo sát, phương pháp phỏng vấn, phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp), tác giả đưa ra những nhận định mang tính khách quan về những kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế và xác định các nguyên nhân của hạn chế trong công tác tổ chức thực hiện chính sách tại địa phương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ