Thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng đối với cán bộ cấp phòng thuộc các sở ban ngành tỉnh an giang

Đào tạo cán bộ cấp phòng tại An Giang: Phân tích chính sách hiện hành và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

81
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá chính sách đào tạo cán bộ cấp phòng tại An Giang

Chính sách đào tạo bồi dưỡng đối với cán bộ cấp phòng là một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển của tỉnh An Giang. Công tác này không chỉ nhằm mục tiêu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc… huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Thấm nhuần tư tưởng đó, An Giang luôn xác định đầu tư cho công tác cán bộ là đầu tư cho sự phát triển bền vững. Việc thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng đối với cán bộ cấp phòng thuộc các sở ban ngành tỉnh An Giang được xây dựng dựa trên một nền tảng pháp lý vững chắc. Các văn bản chỉ đạo của Trung ương như Nghị quyết số 26-NQ/TW và Nghị định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức (Nghị định 101/2017/NĐ-CP) đã định hướng rõ ràng cho hoạt động này. Trên cơ sở đó, tỉnh An Giang đã cụ thể hóa bằng các chương trình, kế hoạch hành động riêng, tiêu biểu là Chương trình hành động số 09-CTr/TU về phát triển nguồn nhân lực An Giang. Mục tiêu chính là xây dựng một đội ngũ cán bộ cấp phòng chuyên nghiệp, có đủ năng lực và phẩm chất để tham mưu, triển khai hiệu quả các chủ trương, chính sách, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương. Chính sách này đặc biệt chú trọng đến việc đào tạo theo vị trí việc làm, gắn liền với quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý và các tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo cấp phòng. Qua đó, đảm bảo nguồn cán bộ kế cận có chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

1.1. Vai trò then chốt của công tác cán bộ tỉnh An Giang

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công tác cán bộ tỉnh An Giang giữ một vị trí chiến lược. Đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp phòng tại các sở, ban, ngành, là lực lượng nòng cốt, trực tiếp tham mưu và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Chất lượng của đội ngũ này quyết định trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và sự phát triển toàn diện của tỉnh. Do đó, việc đầu tư vào đào tạo, bồi dưỡng không chỉ là trách nhiệm mà còn là giải pháp đột phá để nâng cao năng lực cán bộ công chức. Một đội ngũ cán bộ vững vàng về chính trị, tinh thông về chuyên môn sẽ là “dây chuyền” hiệu quả để đưa chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, đồng thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Tỉnh An Giang xác định rõ, đổi mới công tác cán bộ là khâu then chốt, trong đó đào tạo bồi dưỡng là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu.

1.2. Cơ sở pháp lý cho các quy định đào tạo bồi dưỡng công chức

Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng được triển khai dựa trên hệ thống văn bản pháp quy chặt chẽ. Nền tảng pháp lý cao nhất là Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Cụ thể hóa các quy định của luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định 101/2017/NĐ-CP, tạo ra khung khổ thống nhất trên toàn quốc. Tại An Giang, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều văn bản quan trọng. Có thể kể đến Kế hoạch số 74-KH/TU thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII và Nghị quyết số 14/2019/NQ-HĐND về chế độ trợ cấp đào tạo. Các quy định đào tạo bồi dưỡng công chức này đã xác định rõ đối tượng, nội dung, hình thức và kinh phí bồi dưỡng công chức, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích cán bộ tích cực học tập, nâng cao trình độ.

II. Thách thức trong việc đào tạo cán bộ cấp phòng tại An Giang

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, việc thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng đối với cán bộ cấp phòng thuộc các sở ban ngành tỉnh An Giang vẫn đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Một trong những vấn đề nổi cộm là sự thiếu đồng bộ giữa công tác đào tạo và công tác quy hoạch, sử dụng cán bộ. Luận văn của tác giả Trần Hồng Trân (2021) chỉ ra rằng, “công tác ĐTBD chưa gắn với quy hoạch, bố trí, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ”. Điều này dẫn đến tình trạng một số cán bộ sau khi được đào tạo lại không được bố trí đúng chuyên ngành, gây lãng phí nguồn lực. Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ cán bộ cấp phòng còn chưa đồng đều. Thống kê giai đoạn 2017-2020 cho thấy vẫn còn một tỷ lệ cán bộ chưa đạt chuẩn về lý luận chính trị (8,87%) và quản lý nhà nước (4,93%). Một bộ phận cán bộ trẻ tuy có trình độ chuyên môn nhưng còn hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng lãnh đạo. Vấn đề về nguồn kinh phí bồi dưỡng công chức cũng là một rào cản. Mặc dù tỉnh đã có nhiều nỗ lực, ngân sách dành cho công tác này vẫn còn hạn hẹp so với nhu cầu thực tế, ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng các khóa học. Những thách thức này đòi hỏi cần có các giải pháp đồng bộ và quyết liệt hơn nữa để nâng cao hiệu quả chính sách.

2.1. Thực trạng về tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo cấp phòng

Qua phân tích số liệu từ Sở Nội vụ An Giang giai đoạn 2017-2020, thực trạng đội ngũ cán bộ cấp phòng bộc lộ một số điểm cần quan tâm. Về cơ cấu giới tính, tỷ lệ nam giới (71,67%) cao hơn gấp đôi nữ giới (28,33%), cho thấy cần quan tâm hơn đến công tác cán bộ nữ. Về trình độ, dù đa số đạt chuẩn đại học trở lên, vẫn còn 0,49% chỉ có trình độ trung cấp. Đặc biệt, có đến 8,87% cán bộ lãnh đạo cấp phòng chưa đạt chuẩn về lý luận chính trị (chỉ có trình độ sơ cấp). Việc một bộ phận cán bộ được bổ nhiệm nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo cấp phòng theo quy định là một hạn chế cần sớm được khắc phục thông qua các kế hoạch đào tạo cán bộ cấp phòng cụ thể.

2.2. Hạn chế trong công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý

Sự liên kết giữa đào tạo và quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý là yếu tố quyết định sự thành công của chính sách. Tuy nhiên, thực tiễn tại An Giang cho thấy mối liên kết này đôi khi còn lỏng lẻo. Tình trạng đào tạo tràn lan, không theo định hướng quy hoạch vẫn xảy ra ở một số đơn vị. Một số cán bộ được cử đi học không nằm trong diện quy hoạch, trong khi những người trong quy hoạch lại chưa được tạo điều kiện học tập kịp thời. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả đầu tư mà còn ảnh hưởng đến động lực phấn đấu của đội ngũ cán bộ. Để khắc phục, cần xây dựng một quy trình chặt chẽ, trong đó việc cử đi đào tạo phải là một bước bắt buộc và ưu tiên hàng đầu đối với các chức danh đã được phê duyệt trong quy hoạch.

III. Giải pháp tối ưu hóa kế hoạch đào tạo cán bộ cấp phòng

Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng đối với cán bộ cấp phòng thuộc các sở ban ngành tỉnh An Giang, việc tối ưu hóa công tác lập kế hoạch là yêu cầu cấp thiết. Một kế hoạch khoa học phải xuất phát từ việc phân tích, đánh giá đúng thực trạng và nhu cầu của đội ngũ cán bộ. Thay vì cách tiếp cận dàn trải, cần tập trung vào việc xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ cấp phòng dựa trên khung năng lực và vị trí việc làm. Mỗi chức danh lãnh đạo, quản lý cần được xác định rõ các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần thiết, từ đó thiết kế các chương trình đào tạo tương ứng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ An Giang và các cơ quan, đơn vị là yếu tố then chốt. Các đơn vị cần chủ động rà soát, đăng ký nhu cầu đào tạo hàng năm, đảm bảo danh sách cử đi học bám sát quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý. Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các hình thức đào tạo, kết hợp giữa các lớp tập trung dài hạn và các khóa bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn, chuyên sâu. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tổ chức đào tạo cũng cần được đẩy mạnh để tiết kiệm chi phí và tăng tính linh hoạt, giúp cán bộ có thể học tập mọi lúc, mọi nơi.

3.1. Xây dựng kế hoạch đào tạo gắn với đề án đào tạo bồi dưỡng cán bộ

Kế hoạch đào tạo hàng năm và trung hạn cần được xây dựng như một bộ phận hữu cơ của đề án đào tạo bồi dưỡng cán bộ tổng thể của tỉnh. Kế hoạch phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng, nội dung, thời gian và nguồn lực. Quan trọng nhất là phải trả lời được câu hỏi: Đào tạo để làm gì và sau đào tạo sẽ sử dụng cán bộ như thế nào? Việc gắn kết đào tạo với sử dụng sẽ khắc phục được tình trạng lãng phí, đồng thời tạo ra một lộ trình phát triển rõ ràng cho mỗi cá nhân. Kế hoạch cần ưu tiên các đối tượng trong quy hoạch, cán bộ trẻ có tiềm năng và cán bộ đang giữ các vị trí quan trọng nhưng còn thiếu chuẩn theo quy định.

3.2. Đổi mới chương trình đào tạo lãnh đạo quản lý hiện đại

Nội dung đào tạo cần được cập nhật thường xuyên để bắt kịp với sự thay đổi của thực tiễn. Các chương trình đào tạo lãnh đạo quản lý cần giảm bớt phần lý thuyết kinh viện, tăng cường các chuyên đề thực tiễn, các bài tập tình huống và kỹ năng mềm. Nội dung cần tập trung vào việc trang bị tư duy chiến lược, kỹ năng quản trị sự thay đổi, năng lực giải quyết vấn đề và khả năng hội nhập quốc tế. Việc mời các chuyên gia, nhà quản lý giàu kinh nghiệm thực tiễn tham gia giảng dạy sẽ giúp nâng cao chất lượng và tính ứng dụng của các khóa học. Đồng thời, cần khuyến khích cán bộ tự học, tự nghiên cứu để không ngừng hoàn thiện bản thân.

IV. Phương pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo bồi dưỡng

Bên cạnh một kế hoạch tốt, phương pháp tổ chức thực hiện đóng vai trò quyết định đến hiệu quả cuối cùng của chính sách. Để thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng đối với cán bộ cấp phòng thuộc các sở ban ngành tỉnh An Giang một cách hiệu quả, cần có sự đổi mới mạnh mẽ trong cách thức triển khai. Trước hết, cần nâng cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc cử cán bộ đi học và sử dụng cán bộ sau đào tạo. Công tác lựa chọn đối tượng phải đảm bảo công khai, minh bạch, đúng tiêu chuẩn. Thứ hai, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý và các cơ sở đào tạo để đảm bảo chất lượng chương trình. Sở Nội vụ An Giang cần đóng vai trò chủ trì, kết nối để các chương trình bám sát yêu cầu thực tiễn của địa phương. Thứ ba, cần thiết lập một cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả công tác đào tạo một cách khoa học. Việc đánh giá không chỉ dừng lại ở kết quả học tập trên lớp mà phải tập trung vào sự thay đổi trong năng lực và hiệu quả công việc của cán bộ sau khi trở về đơn vị. Cuối cùng, chính sách đãi ngộ và kinh phí bồi dưỡng công chức cần được đảm bảo kịp thời, tạo động lực vật chất và tinh thần để cán bộ yên tâm học tập.

4.1. Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ theo vị trí việc làm

Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cần được thiết kế chuyên biệt cho từng nhóm vị trí việc làm. Thay vì các chương trình đại trà, cần tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên sâu theo từng lĩnh vực như quản lý dự án, tài chính công, cải cách hành chính, chuyển đổi số... Điều này giúp cán bộ cập nhật kiến thức, kỹ năng mới một cách trực tiếp và hiệu quả nhất. Việc tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm chuyên đề, các chuyến đi học tập kinh nghiệm thực tế cũng là những hình thức bồi dưỡng hiệu quả, giúp cán bộ mở rộng tầm nhìn và học hỏi từ những mô hình thành công.

4.2. Áp dụng cơ chế theo dõi đánh giá hiệu quả công tác đào tạo

Xây dựng một bộ công cụ đánh giá hiệu quả công tác đào tạo là yêu cầu bắt buộc. Cơ chế này cần bao gồm việc đánh giá trước, trong và sau khóa học. Trước khóa học, cần khảo sát nhu cầu của học viên. Trong khóa học, cần lấy ý kiến phản hồi về giảng viên và nội dung. Quan trọng nhất là đánh giá sau khóa học, được thực hiện bởi lãnh đạo trực tiếp và thông qua hiệu quả công việc thực tế của cán bộ. Kết quả đánh giá phải được sử dụng để điều chỉnh, cải tiến các chương trình đào tạo trong tương lai, đồng thời là một trong những căn cứ để xem xét, bổ nhiệm cán bộ.

V. Kết quả thực tiễn đào tạo cán bộ cấp phòng An Giang 2017 2020

Giai đoạn 2017-2020 ghi nhận những nỗ lực và kết quả đáng kể trong việc thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng đối với cán bộ cấp phòng thuộc các sở ban ngành tỉnh An Giang. Các số liệu thống kê cho thấy một sự đầu tư mạnh mẽ và có định hướng rõ ràng. Về đào tạo chuyên môn, đã có 80 lượt cán bộ được cử đi học, trong đó có 64 thạc sĩ và 3 tiến sĩ, góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực cán bộ công chức và trình độ học vấn của đội ngũ lãnh đạo. Về lý luận chính trị, có tổng cộng 364 cán bộ tham gia các lớp cao cấp và trung cấp, giúp củng cố bản lĩnh chính trị và nền tảng tư tưởng. Đặc biệt, công tác bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước được chú trọng với hàng trăm lượt cán bộ được cử đi học các lớp chuyên viên và chuyên viên chính. Theo Luận văn của Trần Hồng Trân (2021), “chất lượng đội ngũ cán bộ cấp phòng từng bước được nâng lên, góp phần vào sự phát triển KT-XH của tỉnh”. Những kết quả này cho thấy chính sách đã đi đúng hướng, tạo ra một đội ngũ cán bộ ngày càng chuyên nghiệp, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ, là nguồn kế cận dồi dào cho các chức danh lãnh đạo cao hơn.

5.1. Thống kê số liệu đào tạo chuyên môn và lý luận chính trị

Số liệu từ Sở Nội vụ An Giang cho thấy sự gia tăng về chất lượng học vấn của cán bộ cấp phòng. Trong 4 năm (2017-2020), toàn tỉnh đã cử 67 cán bộ cấp phòng đi đào tạo sau đại học (64 thạc sĩ, 3 tiến sĩ). Công tác đào tạo lý luận chính trị cũng được đẩy mạnh, với 153 cán bộ hoàn thành chương trình cao cấp và 217 cán bộ hoàn thành chương trình trung cấp. Những con số này phản ánh quyết tâm của tỉnh trong việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ theo các tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo cấp phòng, đảm bảo cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”.

5.2. Chuyển biến tích cực trong việc nâng cao năng lực cán bộ công chức

Kết quả của chính sách đào tạo không chỉ thể hiện qua các văn bằng, chứng chỉ mà còn ở sự chuyển biến trong thực tiễn công tác. Đa số cán bộ sau khi được đào tạo đã phát huy tốt hơn năng lực tham mưu, quản lý và điều hành. Họ vận dụng hiệu quả kiến thức được học để giải quyết các vấn đề phức tạp tại cơ quan, đơn vị, đưa ra nhiều sáng kiến cải tiến lề lối làm việc. Quá trình này đã góp phần trực tiếp vào việc nâng cao năng lực cán bộ công chức, xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiệu quả, phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp, đóng góp vào thành tựu phát triển chung của An Giang.

VI. Hướng đi tương lai cho phát triển nguồn nhân lực An Giang

Để tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được, công tác thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng đối với cán bộ cấp phòng thuộc các sở ban ngành tỉnh An Giang cần có một tầm nhìn chiến lược và những bước đi đột phá hơn nữa. Trong giai đoạn tới, mục tiêu không chỉ là chuẩn hóa mà còn là nâng cao và chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ, sẵn sàng cho quá trình hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo ra một hành lang pháp lý đồng bộ và hấp dẫn hơn. Tỉnh cần tiếp tục đầu tư nguồn lực, cả về kinh phí bồi dưỡng công chức lẫn cơ sở vật chất, để nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo. Việc xây dựng một chiến lược tổng thể về phát triển nguồn nhân lực An Giang đến năm 2025 và tầm nhìn 2030 là vô cùng cần thiết. Chiến lược này cần xác định rõ các ngành, lĩnh vực ưu tiên, từ đó có kế hoạch đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài một cách bài bản. Tương lai của An Giang phụ thuộc rất lớn vào chất lượng nguồn nhân lực, trong đó đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp phòng chính là những hạt nhân quan trọng nhất.

6.1. Hoàn thiện chính sách và đề án đào tạo bồi dưỡng cán bộ

Trong thời gian tới, cần rà soát, điều chỉnh và bổ sung các chính sách hiện có cho phù hợp với tình hình mới. Các quy định đào tạo bồi dưỡng công chức cần linh hoạt hơn, mở ra nhiều cơ hội học tập cho cán bộ. Đề án đào tạo bồi dưỡng cán bộ của tỉnh cần được cập nhật, tập trung vào các kỹ năng mới như năng lực số, tư duy đổi mới sáng tạo và ngoại ngữ. Cần có cơ chế khuyến khích mạnh mẽ hơn nữa đối với những cán bộ tự học, tự vươn lên và có những đóng góp xuất sắc sau đào tạo. Chính sách phải thực sự trở thành đòn bẩy để thúc đẩy văn hóa học tập suốt đời trong đội ngũ cán bộ.

6.2. Tầm nhìn chiến lược cho công tác cán bộ tỉnh An Giang

Tầm nhìn chiến lược cho công tác cán bộ tỉnh An Giang là xây dựng một đội ngũ cán bộ “vừa có đức, vừa có tài”, ngang tầm nhiệm vụ. Điều này đòi hỏi phải đổi mới toàn diện từ khâu phát hiện, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo đến đánh giá và sử dụng cán bộ. Cần gắn chặt chẽ việc đào tạo với luân chuyển cán bộ để rèn luyện qua thực tiễn. Đồng thời, phải xây dựng một môi trường làm việc cạnh tranh, lành mạnh để cán bộ có năng lực thực sự có cơ hội cống hiến và phát triển. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt để đảm bảo sự phát triển bền vững của tỉnh trong những năm tiếp theo.

04/10/2025
Thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng đối với cán bộ cấp phòng thuộc các sở ban ngành tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1. Quan niệm, nội dung về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: 1. Cán bộ và chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 1. Cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ - Cán bộ Theo cách hiểu thông thường trong dân gian, cán bộ được coi là tất cả những người làm việc trong bộ máy của Đảng, chính quyền, đoàn thể, lực lượng vũ trang.

Trong Từ điển Tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa là: người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan đảng, nhà nước và đoàn thể; người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ. Theo khoản 1, Điều 4, Luật cán bộ công chức quy định: cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Cán bộ phải thường xuyên tự bồi dưỡng và được đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức, kiến thức nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội ngày càng phát triển.

Cán bộ - theo nghĩa chung nhất, là người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc người làm công tác chuyên môn, nhà khoa học hoặc công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị; hưởng lương và phụ cấp từ ngân sách nhà nước hoặc từ nguồn kinh phí khác; được hình thành thông qua bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt và được phân công công tác. có trách nhiệm xây dựng, quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng, bổ sung, hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật. Cán bộ là nhân tố quyết định 7 sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công đào tạo, huấn luyện, xây dựng được một đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ qua các giai đoạn cách mạng.

Công tác cán bộ là tổng thể các biện pháp của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ; đánh giá cán bộ; quy hoạch cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; luân chuyển, điều động cán bộ; bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ,. nhằm phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ theo hướng bố trí số lượng hợp lý, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu về đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong tình hình mới. Đảng ta đã xác định đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững. Chính sách cán bộ là hệ thống các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; là công cụ và các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng.

Chính sách cán bộ bao gồm: chính sách đào tạo, bồi dưỡng; chính sách sử dụng và quản lý cán bộ; chính sách đảm bảo lợi ích và động viên tinh thần cán bộ. Trong đó chính sách ĐTBD CBCC có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ CBCC ở Việt Nam có năng lực, uy tín phục vụ công cuộc cải cách hành chính và hội nhập quốc tế. - Cán bộ cấp phòng Các chức danh lãnh đạo cấp phòng của các sở, ban, ngành tỉnh bao gồm: Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng; Trưởng ban, Phó Trưởng ban; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng (gọi chung là lãnh đạo cấp Phòng thuộc các sở, ban, ngành tỉnh). Tiêu chuẩn chức danh Trưởng phòng: Trưởng phòng là người đứng đầu phòng, chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng đơn vị về việc triển khai các nhiệm vụ trong lĩnh vực được giao; tham mưu giúp việc Thủ trưởng đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành được 8 giao; chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng đơn vị về toàn bộ hoạt động của Phòng.

Có nhiệm vụ, tổ chức quản lý, điều hành công việc của phòng; quản lý, bố trí sử dụng có hiệu quả đối với công chức, viên chức và người lao động trong phòng; phân công nhiệm vụ cụ thể cho các công chức, viên chức và người lao động trong phòng; hướng dẫn, đôn đốc công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý hoàn thành các nhiệm vụ được giao; kiểm soát việc chấp hành và tuân thủ các quy định của Đảng, pháp luật của nhà nước trong quá trình giải quyết các công việc của phòng; quản lý việc chấp hành chế độ về thời gian làm việc; nội quy, quy chế làm việc của cơ quan; thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công, phân cấp của Thủ trưởng đơn vị; sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao của phòng và đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp tổ chức thực hiện; quản lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài sản được Bộ, đơn vị giao theo quy định. Về kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý: có kinh nghiệm chức vụ quản lý Phó Trưởng phòng hoặc tương đương (trường hợp bổ nhiệm tại chỗ). Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tốt nghiệp đại học trở lên; có bằng tốt nghiệp trung cấp lý luận chính trị hoặc tương đương trở lên; đã được bổ nhiệm ngạch chuyên viên hoặc tương đương trở lên hoặc các chức danh nghề nghiệp tương đương trở lên; có chứng chỉ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính trở lên; có chứng chỉ bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương trở lên. Tiêu chuẩn chức danh Phó Trưởng phòng: Phó Trưởng phòng là người giúp việc cho Trưởng phòng, được Trưởng phòng phân công phụ trách, chỉ đạo, quản lý một hoặc một số lĩnh vực công việc chuyên môn thuộc nhiệm vụ của phòng và chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng về nhiệm vụ được phân công.

Nhiệm vụ: tổ chức thực hiện các công việc chuyên môn, nghiệp vụ theo phân công hoặc ủy quyền của Trưởng phòng; chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các công chức, viên chức, người lao động trong việc thực hiện nhiệm vụ thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách; tham mưu, đề xuất với Trưởng phòng các chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước liên quan đến lĩnh vực được phân công phụ trách và các lĩnh vực khác thuộc phạm vi quản lý của Phòng; báo cáo, đề xuất với Trưởng Phòng phương án xử lý các vấn đề phát sinh, vướng mắc vượt quá thẩm quyền giải quyết trong lĩnh vực được phân công 9 phụ trách; thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công của Trưởng phòng. Về kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý: có kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành được giao (trừ trường hợp nguồn cán bộ từ nơi khác chuyển đến theo chủ trương của cấp có thẩm quyền). Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tốt nghiệp đại học trở lên; có bằng tốt nghiệp trung cấp lý luận chính trị hoặc tương đương trở lên; đã được bổ nhiệm ngạch chuyên viên hoặc tương đương trở lên hoặc các chức danh nghề nghiệp tương đương trở lên; có chứng chỉ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên trở lên; có chứng chỉ bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương trở lên. - Đào tạo Đào tạo là khái niệm được xác định là quá trình biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống thông qua việc học tập và rèn luyện.

Việc học tập này có được là kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển và lĩnh hội kinh nghiệm một cách có kế hoạch. Đào tạo là quá trình cung cấp và tạo dựng khả năng làm việc cho người học, hoặc - nói cách khác - là huấn luyện và giáo dục một cách có kế hoạch, có sự kết hợp trong các lĩnh vực khoa học chuyên ngành như: chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, hành chính hay các lĩnh vực khác, nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc của cá nhân, tổ chức và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu công tác. Theo Tự điển Bách khoa Việt Nam 1995, Nhà xuất bản Hà Nội: “Đào tạo là một quá trình tác động đến con người, làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị thích nghi với cuộc sống và có khả năng nhận được sự phân công nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người”. Theo Nghị định số 101/2017/NĐ-CP, ngày 01/9/2017 của Chính Phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức: Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định từng cấp học, bậc học.

Đào tạo còn có thể hiểu là hình thức tác động, hình thành và trang bị cho người học sau khi hoàn thành việc học có một trình độ mới cao hơn trình độ cũ đã có trước đó, người học sau khi được đào tạo sẽ được nâng từ trình độ thấp hơn lên 10 trình độ cao hơn và được chứng nhận bằng một văn bằng tương ứng hay đào tạo là các hoạt động học tập cung cấp những kiến thức, kỹ năng nhằm giúp công chức có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ vị trí việc làm của mình. Đó là quá trình truyền thụ khối kiến thức mới một cách có hệ thống để người công chức thông qua đó trở thành người có văn bằng mới hoặc cao hơn trình độ trước đó, “đào tạo là các hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện có hiệu quả hơn chức năng và nhiệm vụ của mình”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ