Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1. Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố trong khởi tố, điều tra các vụ án về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [35]. Cụ thể hơn, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã quy định chức năng của VKSND như sau: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [38]. Viện kiểm sát không chỉ có chức năng “kiểm sát” như tên gọi của cơ quan này mà còn có chức năng THQCT - thực hiện việc buộc tội của Nhà nước.
Đây là chức năng vô cùng quan trọng, trên thế giới nhiều quốc gia gọi thẳng tên cơ quan thực hiện chức năng này là cơ quan công tố và coi đây là chức năng duy nhất. Điều đó cho thấy vai trò vô cùng quan trọng của THQCT trong xã hội nói chung và trong lĩnh vực tư pháp nói riêng. Khái niệm thực hành quyền công tố trong khởi tố, điều tra các vụ án hình sự Theo “Hán Việt Tân từ điển” của tác giả Hoàng Thức Trâm, “việc lên án kẻ phạm tội do cơ quan công an sau khi đã tra xét và đã đưa kiện tại toà án sử dụng cái quyền ấy gọi là công tố quyền” [46]. Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, “công tố” là việc quan kiểm sát đã xem xét hình sự rồi, bèn thay mặt quốc gia để buộc tội trước toà án, thế gọi là công tố (prononcer le réquisitoire) [1].
Ở đây, Đào Duy Anh không chỉ dựa trên nghĩa Hán Việt mà mà còn có sự tham khảo nghĩa của từ này dựa trên cụm từ “prononcer le 8 réquisitoire” mà “prononcer” trong tiếng Pháp là công bố, tuyên bố, còn “réquisitoire” có nghĩa là buộc tội nên cụm từ tiếng Pháp này được hiểu là công bố việc buộc tội. Còn theo Black's Law Dictionary (8th ed. 2004) thì định nghĩa prosecution (truy tố) là: The commencement and carrying out of any action or scheme, a criminal proceeding in which an accused person is tried - also termed criminal prosecution, tạm dịch là “việc bắt đầu thực hiện và triển khai thực hiện bất kỳ hành động hoặc kế hoạch nào hay một thủ tục tố tụng hình sự trong đó có bị cáo bị xét xử nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đó” [54]. Hiện trong các văn bản pháp luật không có khái niệm định nghĩa về quyền công tố là gì nhưng có một cách hiểu chung được nhiều người thừa nhận đó là: quyền của Nhà nước buộc tội đối với người phạm tội.
Vậy thực hành quyền công tố là gì? Có thể nói THQCT là một quyền hiến định (được quy định trong Hiến pháp) và trao cho một cơ quan chuyên môn đó là VKSND đảm nhiệm vai trò cũng như các quyền năng của mình từ khâu giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đến kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, xem xét vụ án hình sự sau đó đến giai kết thúc khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Tóm lại, chức năng THQCT được VKSND thực hiện từ khi có tội phạm được phát hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp có căn cứ do pháp luật cho rằng áp dụng quyền công tố không còn phù hợp) nhằm buộc tội nhân danh Nhà nước đưa người phạm tội ra trước Toà án với các chứng cứ và lập luận để bảo vệ nội dung buộc tội trước Toà. Nếu không có việc cơ quan tố tụng mà ở đây là Viện kiểm sát THQCT thì Toà án sẽ không có đối tượng xét xử, vì vậy có thể nói đây cũng là tiền đề xét xử [38]. Giữa các quốc gia trên thế giới, khái niệm công tố và mô hình cơ quan công tố có thể không thống nhất nhưng đều có điểm chung đó là thể hiện tính chất quyền lực của Nhà nước, thể hiện cho ý 9 chí chung của Nhà nước nhằm buộc tội những hành vi nguy hiểm cho cộng đồng và quyền này cũng mang tính đặc thù là chỉ xuất hiện trong lĩnh vực tư pháp hình sự [51, Điều 3].
Tại Việt Nam, nội hàm THQCT đã được làm rõ thông qua quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 như sau: Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, xét xử vụ án hình sự [38]. Trong phạm vi của đề án này, học viên chỉ tập trung nghiên cứu THQCT trong khởi tố, điều tra các vụ án hình sự. Theo đó, nội dung THQCT trong khởi tố, điều tra các vụ án hình sự gồm: Về thực hành quyền công tố trong khởi tố các vụ án hình sự. Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền xác định vụ việc nào đó có dấu hiệu phạm tội hình sự hay không và ra các quyết định là tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định không khởi tố hay khởi tố vụ án hình sự và đưa vụ án vào giai đoạn tiếp theo.
THQCT trong khởi tố các vụ án hình sự là việc cơ quan tiến hành tố tụng mà cụ thể ở đây là cơ quan được trao quyền công tố tức là VKSND thực hiện việc buộc tội với việc phê chuẩn những quyết định mang tính chất buộc tội gián tiếp như bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ. Nội dung THQCT trong khởi tố các vụ án hình sự chưa nhiều trong giai đoạn này, được quy định cụ thể tại BLTTHS, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Về thực hành quyền công tố trong điều tra các vụ án hình sự, được hiểu là việc cơ quan tiến hành tố tụng mà cụ thể ở đây là cơ quan có quyền công tố 10 tức là VKSND thực hiện hành vi tố tụng của mình sau giai đoạn khởi tố mà cụ thể là sau khi xác định có hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự (sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự) và được thể hiện tại các quy định của BLTTHS cũng như Điều 15 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự. Nội dung THQCT trong điều tra các vụ án hình sự chủ yếu là các hoạt động phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ một số biện pháp ngăn chặn mang tính nghiêm khắc, đưa ra yêu cầu điều tra.
Khái niệm, đặc điểm của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Tội phạm là một phạm trù của khoa học pháp lý hình sự và cũng là một thuật ngữ pháp lý trọng tâm của pháp luật hình sự, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ (những hành vi nguy hiểm này là những hành vi bị luật hình sự cấm) và do chủ thể có trách nhiệm hình sự thực hiên mà chủ thể đó có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại và hành vi phạm tội đó phải thoả mãn tính chất có lỗi, có lỗi của chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trước tiên được quy định trong luật hình sự (đặc điểm về hình thức), thoả mãn tiêu chí của một tội phạm đó là có tính nguy hiểm cho xã hội (đặc điểm về nội dung), xâm phạm các quan hệ xã hội được Nhà nước bảo vệ thông qua các quy định trong luật hình sự mà cụ thể ở đây là xâm phạm trật tự an toàn đường bộ, do chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện (chủ thể là cá nhân) và những hành vi vi phạm này đều có lỗi. Theo đó, tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được hiểu như sau: “Tội vi phạm quy định về tham gia phương tiện giao thông 11 đường bộ là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi vô ý, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ”. Tội phạm này có đặc điểm như sau: Thứ nhất, về khách thể của tội phạm: tội phạm xâm phạm trật tự, an toàn công cộng mà cụ thể là xâm phạm trật tự, an toàn giao thông nói chung và trật tự, an toàn giao thông đường bộ nói riêng, xâm phạm vào những quy định về an toàn giao thông đường bộ, là những quy định đảm bảo an toàn giao thông, đảm bảo giao thông được thông suốt, được tiến hành bình thường, bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của công dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân khác.
Thứ hai, về mặt khách quan của tội phạm: - Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm Hành vi khách quan cảu tội phạm này là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ - những quy định mà người tham gia giao thông phải chấp hành để tránh gây thiệt hại cho người khác, có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ hoặc về tài sản. Những quy định này có thể có tính bắt buộc đối với tất cả những người tham gia giao thông như quy định về chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ hoặc cho đối tượng tham gia giao thông cụ thể như quy định về tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe. Như vậy, dấu hiệu hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ đòi hỏi phải xác định chủ thể tham gia giao thông đường bộ đã không chấp hành quy định cụ thể của pháp luật giao thông đường bộ. Ở đây cần chú ý, hành vi vi phạm này chỉ có thể xảy ra trên “đường bộ” gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ.