phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo,tài liệu đính kèm, luận văn có kết cấu 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1. Lý luận chung về việc sử dụng CCTC để thúc đẩy hoạt động NCKH Chƣơng 2. Thực trạng việc sử dụng CCTC để thúc đẩy hoạt động NCKH tại một số trƣờng đại học ở tỉnh Hải Dƣơng Chƣơng 3. Giải pháp tăng cƣờngsử dụng CCTC để thúc đẩy hoạt động NCKH tại một số trƣờng đại học ở tỉnh Hải Dƣơng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÔNG CỤ TÀI CHÍNH ĐỂ THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1. Hoạt động nghiên cứu khoa học 1. Khái niệm “nghiên cứu khoa học” 1. Khoa học Có nhiều cách tiếp cận khái niệm này: Tiếp cận nội dung: KH là hệ thống tri thức về thế giới khách quan (TGKQ) Tiếp cận nhận thức: KH là 1 quá trình nhận thức (tìm tòi, phát hiện những quy luật của TGKQ).
Tiếp cận hoạt động: KH là 1 dạng hoạt động đặc thù của con ngƣời nhằm nhận thức về TGKQ (hoạt động KH) Đặc điểm của khoa học : Tính thực tiễn (quan hệ với thực tiễn): KH có nguồn gốc từ thực tiễn; đƣợc kiểm nghiệm trong thực tiễn; đƣợc vận dụng vào thực tiễn. Sản phẩm của KH phải đƣợc khẳng định (chứng minh) bằng các phƣơng pháp KH. Tính tiên đoán (dự báo) : Những tƣ tƣởng KH tiên tiến thƣờng đi trƣớc thời đại, vƣợt lên khỏi những yêu cầu trình độ hiện tại. Khoa học không có giới hạn trong sự phát triển.
Nó luôn vận động và ngày càng hoàn thiện cùng khả năng nhận thức & trình độ phát triển của khoa học. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tính phân hóa ngày càng sâu: Phân chia thành những lĩnh vực theo chiều sâu (chuyên biệt cao), nhƣng lại có sự tích hợp giữa các lĩnh vực. Khoa học ngày càng đƣợc ứng dụng nhanh trong thực tiễn. Những tiêu chí để nhận biết một khoa học: Có đối tƣợng nghiên cứu; Có phƣơng pháp nghiên cứu; Có hệ thống những phạm trù, khái niệm; Khoa học đƣợc hiểu là “hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy”1 “Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới, … về tự nhiên và xã hội.
Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp”2. Thí dụ: Quan niệm thực vật là vật thể không có cảm giác đƣợc thay thế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận. Nhƣ vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, và tƣ duy. Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.
Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. + Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết đƣợc tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời và giữa con ngƣời với thiên nhiên. Quá trình nầy giúp con ngƣời hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con ngƣời trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm đƣợc con ngƣời không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế.
Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chƣa thật 1 Pierre Auger: Tendences actuelles de la recherche scientifique. UNESCO, Paris, 1961, try.vn/m/khai-niem-khoa-hoc-va-nghien-cuu-khoa-hoc/342fcdee 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự đi sâu vào bản chất, chƣa thấy đƣợc hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con ngƣời. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhƣng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học. + Tri thức khoa học: là những hiểu biết đƣợc tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các họat động nầy có mục tiêu xác định và sử dụng phƣơng pháp khoa học.
Không giống nhƣ tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập đƣợc qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học đƣợc tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) nhƣ: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,… 1. Nghiên cứu khoa học Khái niệm Nghiên cứu là một công việc mang tính chất tìm tòi, xem xét cặn kẽ một vấn đề nào đó để nhận thức nó hoặc để giảng giải cho ngƣời khác rõ. Vũ Cao Đàm thì “NCKH là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải thiện thế giới”3 Nhƣ vậy có thể hiểu rằng,NCKH nói chung là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới đó là: Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật và hiện tƣợng - Phát hiện qui luật vận động của sự vật và hiện tƣợng Vận dụng qui luật để sáng tạo giải pháp tác động lên sự vật hiện tƣợng 3 Vũ Cao Đàm.
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Khoa học kỹ thuật, 1999, tr. 20 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sự phát triển của hệ thống NCKH phụ thuộc vào nhu cầu của xã hội. Trong điều kiện ngày nay, có sự gắn bó chặt chẽ giữa nghiên cứu cơ bản (nghiên cứu hàn lâm) và nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu theo từng ngành và nghiên cứu liên ngành.
Nghiên cứu liên ngành nhằm giải quyết những vấn đề lớn, phức tạp. + Nghiên cứu hàn lâm: nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi về bản chất lý thuyết, hay nói cách khác là xây dựng và kiểm định các lý thuyết khoa học. Các lý thuyết khoa học này đóng góp vào kho tàng tri thức khoa học để giải thích và dự báo các hiện tƣợng khoa học (Kerlinger 1986, dẫn theo[2]). Lý thuyết khoa học ở đây có thể là một lý thuyết mới (chƣa có trƣớc đó) hoặc là một cách mới,… + Nghiên cứu ứng dụng: nghiên cứu nhằm áp dụng các thành tựu khoa học (lý thuyết khoa học) vào các lĩnh vực cụ thể trong cuộc sống.
NCKH là quá trình nhận thức hƣớng vào việc khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tƣợng trong thế giới khách quan nhằm phát triển nhận thức KH về thế giới. Đó là hoạt động trí tuệ nhằm cải tạo hiện thực Nhƣ vậy, Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt đƣợc từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phƣơng pháp và phƣơng tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con ngƣời muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lãnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phƣơng pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trƣờng.
Bản chất của NCKH là hoạt động sáng tạo của các nhà KH nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải tạo thế giới Chức năng của NCKH (thể hiện trình độ nhận thức khoa học) 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Mô tả: Trình bày lại những kết quả nghiên cứu một hiện tƣợng hay một sự kiện KH làm sao cho đối tƣợng đó đƣợc thể hiện đến mức độ nguyên bản tối đa. + Giải thích: Trình bày một cách tƣờng minh bản chất của đối tƣợng nghiên cứu, chỉ ra đối tƣợng ấy đã tuân thủ một phần hay toàn bộ các quy luật chung của sự phát triển hiện thực. + Giải thích :KH không chỉ phản ánh trung thực các sự kiện của hiện thực mà còn chỉ ra nguồn gốc phát sinh, phát triển, mối quan hệ của sự kiện với các sự kiện khác, với môi trƣờng xung quanh, những điều kiện, nguyên nhân, những hệ quả đã hoặc có thể xảy ra. + Phát hiện: Khám phá ra bản chất, các quy luật vận động và phát triển của sự vật hiện tƣợng (đối tƣợng nghiên cứu).
Phát hiện đồng nghĩa với phát minh, với quá trình sáng tạo ra chân lý mới làm phong phú thêm kho tàng tri thức nhân loại. Phát hiện KH là trình độ nhận thức sáng tạo cao nhất của con ngƣời. Kết quả là tạo nên các khái niệm, các phạm trù, các lý thuyết, học thuyết, quy trình công nghệ mới,… Đó là những tri thức có giá trị đối với lý luận và thực tiễn. Mục đích của NCKH không chỉ nhằm vào việc nhận thức thế giới mà còn cải tạo thế giới và một KH đích thực thì luôn vì cuộc sống của con ngƣời.
Nghiên cứu khoa học trong giáo dục nhằm: + Góp phần xây dựng hệ thống lý luận của KHGD; + Góp phần nâng cao hiệu quả, chất lƣợng GD – ĐT; + Góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực cho ngƣời nghiên cứu; + Góp phần làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách GD. Đặc điểm NCKH + Tính mới mẻ; Tính thông tin; 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tính tin cậy; Tính khách quan; Tính mạo hiểm; Tính kinh tế. Các lĩnh vực nghiên cứu khoa học Nghiên cứu cơ bản: Nghiên cứu cơ bản là những hoạt động nghiên cứu tìm ra những qui luật chung những hƣớng đi lớn (nghiên cứu nguồn gốc của sự sống, nghiên cứu hệ thống giáo dục quốc dân, nghiên cứu mô hình kinh tế, nghiên cứu vật lí, hóa học.) tìm ra loại nguyên liệu mới, tìm ra những công cụ toán học mới v. kết quả của nghiên cứu cơ bản còn nằm trong phòng thí nghiệm, trong tài liệu viết, trong tủ kính (hàng mẫu).
Nghiên cứu cơ bản luôn đi trƣớc các loại hình nghiên cứu khác. Nghiên cứu ứng dụng: Ðây là công việc của lực lƣợng đông đảo nhất của các nhà khoa học với xu hƣớng là đƣa các kết quả của nghiên cứu cơ bản vào phục vụ cho xã hội loài ngƣời. Không có họ, mọi NCKH đều vô nghĩa. Tuy nhiên các kết quả ứng dụng cũng vẫn còn trong phòng thí nghiệm, nó còn một khoảng cách khá xa để đến với xã hội bởi vì tính kinh tế, tính thuận tiện, tính địa phƣơng cũng nhƣ khả năng sản xuất hàng loạt đã chƣa cho phép.
Nghiên cứu triển khai: Ðây mới là ý nghĩa chính của khoa học.