Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thúc đẩy hoạt động cho vay TMBM của NHTM Chương 2: Thực trạng thúc đẩy hoạt động cho vay TMBM ở BIDV Lạng Sơn từ 2009 - 2011 Chương 3: Định hướng và một số giải pháp thúc đẩy hoạt động cho vay TMBM ở BIDV Lạng Sơn 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG CHO VAY THƢƠNG MẠI BIÊN MẬU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động thƣơng mại biên mậu trong nền kinh tế quốc dân 1. Khái niệm và sự phát triển của thương mại biên mậu 1. Khái niệm Theo Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07 tháng 11 năm 2006 và 139/2009/QĐ-TTg ngày 23 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới, hoạt động thương mại biên mậu hay hoạt động thương mại biên giới bao gồm: - Hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá của cƣ dân biên giới là những hoạt động dành riêng cho cư dân biên giới phù hợp với các quy định sau: + Hàng hóa trao đổi, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu theo hình thức thương mại biên giới được phép xuất nhập khẩu theo giấy phép của Bộ thương mại, hoặc các bộ quản lý chuyên ngành, hoặc theo các quy định riêng áp dụng đối với một số mặt hàng đặc biệt.
+ Riêng hàng hoá nhập khẩu vào nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới hình thức mua, bán, trao đổi hàng hoá cư dân biên giới được sản xuất từ nước có chung biên giới (phù hợp Danh mục hàng hoá do Bộ trưởng Bộ Công Thương công bố trong từng thời kỳ sau khi đã bàn thống nhất với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan) được miễn thuế nhập khẩu và các loại thuế khác (nếu có) với giá trị không quá 2.000 (hai triệu) đồng/1 người/1 ngày/1 lượt”. + Công dân là cư dân biên giới, có hộ khẩu thường trú tại các khu vực tiếp giáp biên giới với các nước có chung biên giới được mua bán, trao đổi các mặt hàng phù hợp với quy định về hàng hoá thương mại biên giới. 5 - Buôn bán tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu và chợ trong khu kinh tế cửa khẩu + Chợ biên giới là chợ được lập ra trong khu vực xã, phường, thị trấn biên giới trên đất liền thuộc lãnh thổ Việt Nam. + Chợ cửa khẩu là chợ được lập ra trong khu vực biên giới trên đất liền thuộc lãnh thổ Việt Nam gắn với các cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá nhưng không thuộc Khu kinh tế cửa khẩu.
+ Chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu là chợ được lập ra trong Khu kinh tế cửa khẩu có quyết định thành lập theo quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế. - Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới theo các phương thức không theo thông lệ buôn bán quốc tế được thoả thuận trong Hiệp định Thương mại song phương giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước có chung biên giới”. Sự phát triển của thương mại biên mậu với Trung Quốc Năm 1950 hai nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và CHND Trung Hoa chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Tháng 4 năm 1952, hai nước thông qua “Bị vọng lục mậu dịch”, những năm sau đó lại ký tiếp các Nghị định về buôn bán như Nghị định thư buôn bán tiểu ngạch biên giới Việt – Trung năm 1955, Nghị định thư trao đổi hàng hóa biên giới Việt – Trung năm 1957 … Buôn bán qua biên giới giai đoạn 1959 – 1975 được thực hiện chủ yếu thông qua các Nghị định thư được ký kết hàng năm giữa hai chính phủ.
Trong đó có ấn định mở 3 cặp cửa khẩu và 28 điểm trao đổi hàng hóa. Theo thỏa thuận, có hai hình thức buôn bán là tiểu ngạch (giữa nhân dân hai bên vùng biên giới) và các công ty quốc doanh của các địa phương hai bên dọc đường biên. Từ những năm 1965 – 1975, hoạt động giao lưu kinh tế ngoài mục đích trao đổi, thương mại còn mang tính chất viện trợ cho Việt Nam chống Mỹ cứu nước. Lúc này, trên biên giới đã có 28 cặp cửa khẩu (trong đó có 4 cửa khẩu quốc tế, 10 cặp cửa khẩu quốc gia và 14 cặp cửa khẩu tiểu ngạch).
Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách độc quyền ngoại thương, ngoại hối, cơ quan quản lý xuất nhập khẩu 6 ở khu vực biên giới gồm 4 thành phần: Thương nghiệp (quản lý mậu dịch xuất nhập khẩu), Ngân hàng (đổi tiền), Hải quan (thuế xuất nhập khẩu), Công an vũ trang (xuất nhập cảnh). Tháng 2 năm 1979, chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra, từ đó quan hệ giao lưu giữa hai nước bị gián đoạn. Đến năm 1988 hai nước mở cửa biên giới và năm 1991 hai nước chính thức bình thường hóa quan hệ, “khép lại quá khứ, mở ra tương lai”. Từ năm 1991, số doanh nghiệp tham gia buôn bán với Trung Quốc ngày càng tăng lên.
Theo thống kê của các cửa khẩu ở Lạng Sơn, năm 1991 chỉ có vài chục đơn vị, đến năm 1995 đã có 181 đơn vị, năm 2000 có 350 đơn vị buôn bán với Trung Quốc qua các cửa khẩu này, chưa kể các hộ tư nhân. Ngay từ những ngày đầu mở cửa biên giới, buôn bán biên giới Việt – Trung được tiến hành dưới 3 hình thức phổ biến là chính ngạch, tiểu ngạch và buôn bán dân gian. Đối tượng làm XNK tiểu ngạch là người buôn bán có hộ khẩu thường trú tại các xã giáp biên giới và giá trị hàng hóa mỗi lần xuất hoặc nhập không vượt quá 500.000 VNĐ, tương đương trị giá của 200 kg gạo tẻ theo thời giá. Còn hình thức mua bán chính ngạch phải tuân thủ Hiệp định thương mại được ký kết giữa hai chính phủ ngày 7/11/1991.
Buôn bán biên giới theo hình thức này được “thực hiện thông qua các hợp đồng ký kết giữa các công ty ngoại thương và các thực thể kinh tế khác có quyền kinh doanh ngoại thương của Việt Nam và Trung Quốc theo quy định của Hiệp định thương mại, theo luật pháp của mỗi nước và theo tập quán thương mại quốc tế”. Hình thức thứ 3, buôn bán dân gian hay còn gọi là trao đổi của cư dân biên giới do nhân dân ven hai vùng biên thực hiện. Hàng hóa đem ra trao đổi thường do họ tự sản xuất ra, không có tính chất mua đi, bán lại. Hình thức buôn bán này là nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân vùng biên giới, do điều kiện địa hình không thuận lợi, hàng hóa không thể chuyển từ miền xuôi lên được, hoặc nếu có thì chi phí rất cao, trong khi việc qua lại biên giới để mua hàng rất dễ dàng.
Các hình thức buôn bán trên kéo dài từ khi mở cửa đến khi có thông tư số 14/2001/TT-BTM ngày 14/05/2001 của Bộ thương mại và Quyết định 46 của Thủ tướng chính phủ về quản lý XNK hàng hóa 2001-2005 không còn phân biệt buôn 7 bán chính ngạch và tiểu ngạch, mà chỉ có hình thức mua bán hàng hóa qua biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Về đối tượng cũng mở rộng ra tất cả thương nhân Việt Nam là doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, kể cả các hộ kinh doanh cá thể. Nhu cầu vốn của nhà kinh doanh trong hoạt động thương mại biên mậu Hiện nay, mặc dù có rất nhiều tiềm năng cũng như lợi thế, song hoạt động thương mại biên giới vẫn còn nhiều hạn chế, cản trở các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cơ sở vật chất, kỹ thuật thương mại tại hầu hết các khu vực cửa khẩu, tuyến biên giới còn lạc hậu.
Các công trình cơ bản như trung tâm thương mại, kho ngoại quan, hệ thống cửa hàng giới thiệu, mua bán hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu đều thiếu và yếu; hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống thanh toán còn thấp kém… Chính vì vậy, nhu cầu về nguồn vốn đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu biên mậu là rất cấp thiết. Đối với nhà kinh doanh xuất khẩu Nhà xuất khẩu thường phải thực hiện quá trình như sau: tìm kiếm khách hàng, ký kết hợp đồng, chuẩn bị sản xuất, cung ứng sản phẩm, lắp ráp chạy thử, bàn giao, bảo hành … Trong quá trình này, nhà xuất khẩu thường xuyên nảy sinh nhu cầu tài trợ vốn của ngân hàng, cụ thể là: - Trước khi xuất khẩu: Doanh nghiệp phát sinh nhu cầu vốn để thu mua nguyên vật liệu, thiết bi phục vụ sản xuất. Doanh nghiệp có thể tự huy động vốn từ nguồn vốn tích lũy của mình hoặc tìm nguồn vốn từ các trung gian tài chính hoặc nhà nhập khẩu. - Trong quá trình sản xuất: thường phát sinh rất nhiều chi phí như chi phí nhân công, chi phí quản lý, … khiến nhà xuất khẩu có nhu cầu về vốn.
- Sau khi xuất khẩu: Thông thường, sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu chưa nhận được ngay tiền thanh toán. Nhà xuất khẩu phát sinh nhu cầu vốn khi bản thân họ thiếu nguồn bù đắp các khoản phải thu, đặc biệt các khoản phải thu từ nhà nhập khẩu mặc dù năng lực tài chính của họ đủ để trang trải cho mọi nhu cầu vốn lưu động trong quá trình sản xuất, thu mua hàng xuất khẩu. Đối với nhà kinh doanh nhập khẩu Giống như ở phía nhà xuất khẩu, nhà kinh doanh nhập khẩu cũng cần vốn phục vụ cho thương vụ nhâp khẩu của mình, cụ thể là: - Ký hợp đồng: Nhà nhập khẩu cần vốn để đặt cọc cho hợp đồng đã ký kết. - Cung ứng và vận chuyển hàng hóa: Nhu cầu vốn trang trải cho các chi phí về vận chuyển và bảo hiểm.
- Nhận hàng hóa: Nhu cầu tài trợ thanh toán và chấp nhận thanh toán. Cho vay hoạt động thương mại biên mậu của các ngân hàng thương mại có vai trò lớn đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Hoạt động cho vay thƣơng mại biên mậu của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về hoạt động cho vay thương mại biên mậu Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa.
Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa.