LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Ở Việt Nam gần 70% tổng số người lao động tham gia trong lĩnh vực nông nghiệp…Một bộ phận dân cư còn sống ở mức nghèo tập trung nhiều hơn ở các vùng nông thôn và các vùng sâu, vùng xa. Các đối tượng này có thể khó tiếp cận với vốn tín dụng tại các ngân hàng thương mại do những trở ngại về điều kiện về tài sản bảo đảm nợ vay, cũng như sự hiểu biết về vốn tín dụng để phát triển sản xuất. Xuất phát từ những nhu cầu thiết yếu của người dân, ngày 4 tháng 10 năm 2002; Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 131/TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo trước đây để thực hiện nhiệm vụ cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Sự ra đời của NHCSXH thể hiện những nỗ lực lớn trong việc thực hiện chương trình, mục tiêu quốc gia và cam kết trước cộng đồng quốc tế về xóa đói giảm nghèo và tạo điều kiện hội nhập cho các Ngân hàng thương mại Nhà nước. Tín dụng ngân hàng là lĩnh vực hoạt động phong phú và là một trong những kênh phân phối, sử dụng vốn hiệu quả nhất bởi vì nó giúp nguồn vốn luôn vận động đáp ứng kịp thời các nhu cầu thiết thực của các tổ chức, cá nhân. Tín dụng ngân hàng cũng là một trong những công cụ kinh tế quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, tạo cho xã hội phát triển ổn định và bền vững. Trong những năm gần đây, các nguồn vốn tín dụng ưu đãi đã đến với những hộ gia đình chính sách trong tất cả phường, xã, ở Hà Tĩnh, điều này đã đóng góp tích cực vào việc xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống của người dân.
Với mô hình tổ chức được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương trên cơ sở tận dụng bộ máy và màng lưới sẵn có của NHNo&PTNT Việt Nam, Ngân hàng Phục vụ người nghèo đã thiết lập được kênh tín dụng riêng để hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo ở Việt Nam với các chính sách tín dụng hợp lý, giúp hộ nghèo có vốn sản xuất, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, từng bước làm quen với nền sản xuất hàng hoá và có điều kiện thoát khỏi đói nghèo. 2 Tuy nhiên, từ bộ phận quản trị đến bộ phận điều hành của Ngân hàng Phục vụ người nghèo đều làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nên rất ít thời gian để nghiên cứu những vấn đề thực tiễn, hạn chế công việc nghiên cứu đề xuất chính sách, cơ chế quản lý điều hành. Mọi hoạt động về nghiên cứu, đề xuất cơ chế chính sách đều giao cho ban điều hành nghiên cứu soạn thảo trong khi ban điều hành đang thuộc NHNo&PTNT Việt Nam. Như vậy, không tách được chức năng hoạch định chính sách và điều hành theo chính sách.
Hơn nữa, bên cạnh Ngân hàng Phục vụ người nghèo, nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước hỗ trợ người nghèo và các đối tượng chính sách khác còn được giao cho nhiều cơ quan Nhà nước, hội đoàn thể và Ngân hàng thương mại Nhà nước cùng thực hiện theo các kênh khác nhau, làm cho nguồn lực của Nhà nước bị phân tán, chồng chéo, trùng lắp, thậm chí cản trở lẫn nhau. Bên cạnh nguồn vốn cho vay hộ nghèo được Ngân hàng Phục vụ người nghèo và NHNo&PTNT Việt Nam thực hiện thì thực tế còn có: nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm do Kho bạc Nhà nước quản lý và cho vay; nguồn vốn cho vay đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn do Ngân hàng Công thương thực hiện; nguồn vốn cho vay ưu đãi các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất, kinh doanh thuộc hải đảo, thuộc khu vực II, III miền núi, các xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 của Chính phủ… Trong hơn 15 năm hoạt động NHCSXH tỉnh Hà Tĩnh Bên cạnh đó đời sống việc làm, lao động sản xuất của người dân, đặc biệt là hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác ngày càng được nâng lên. Trong thời gian qua, được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) Trung ương, của Thành ủy, UBND thành phố, Ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH các cấp, sự phối hợp chặt chẽ với các ngành và các tổ chức chính trị xã hội, NHCSXH tỉnh Hà Tỉnh đã tập trung triển khai đồng bộ và hiệu quả các giải pháp nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách khác; đồng thời tập trung củng cố nâng cao chất lượng tín dụng chính sách, hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu cấp trên giao, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu giảm nghèo, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn. 3 Tuy nhiên các hoạt động tín dụng tại NHCSXH cũng làm xuất hiện các vấn đề đặc biệt về hiệu quả tín dụng như nợ quá hạn, tỷ lệ thu lãi suất thấp, sử dụng nguồn vốn cho người nghèo không hiệu quả và thiếu phối hợp giữa NHCSXH và các tổ chức xã hội.
Vì vậy, vấn đề hiệu quả hoạt động tín dụng ưu đãi đối với hộ vay vốn luôn là mối quan tâm hàng đầu. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng luôn là yêu cầu bức xúc đặt ra, đồng thời là mục tiêu hướng tới trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Từ lý luận và thực tiễn, tác giả đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ƣu đãi tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Hà Tĩnh” làm đối tượng nghiên cứu và là đề tài luận văn của mình. Tổng quan nghiên cứu Bằng việc kế thừa, học tập kết quả các công trình nghiên cứu các tài liệu tham khảo về xóa đói giảm nghèo và vốn ưu đãi. Tác giả sẽ nghiên cứu về cách thức để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ưu đãi của NHCSXH tỉnh Hà Tĩnh từ đó có thể phát huy được tối đa nguồn vốn và thực hiện được ý nghĩa của vốn tín dụng ưu đãi dành cho người nghèo thông qua các chính sách vay vốn ưu đãi của tỉnh Hà Tĩnh.
Phân tích, đánh giá bản chất hoạt động tín dụng, các tiêu chí đo lường hiệu quả tín dụng, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng Phân tích, đánh giá các mức độ của hộ nghèo để có thể phân chia theo từng mức và có được đánh giá tổng quan về từng hộ nghèo từ đó đưa ra mức hỗ trợ về vốn tín dụng tốt nhất và phù hợp nhất. Ngân hàng Chính sách xã hội được thành lập theo quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 4 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo để thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác như: Cho vay đối với hộ nghèo; cho vay vốn để giải quyết việc làm; cho vay đối với học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất kinh doanh thuộc Hải đảo, thuộc khu vực II, III miền núi và thuộc chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền 4 núi, vùng sâu, vùng xa; các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài và các đối tượng khác khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Có thể nói vốn tín dụng ưu đãi đã giúp các hộ nghèo, gia đình khó khăn giảm đáng kể về gánh nặng tài chính, tạo điều kiện phát triển sản xuất, cải thiện cuộc sống, tự vươn lên khẳng định vị thế của mình trong xã hội. Trước năm 2002, hoạt động này chỉ là một bộ phận nhỏ nằm trong Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Chỉ từ khi Ngân hàng Chính sách xã hội ra đời thì phạm vi được mở rộng, người nghèo và các đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận với dịch vụ tín dụng ưu đãi của nhà nước một cách nhanh chóng và thuận tiện; đồng thời khẳng định chủ trương tập trung các nguồn vốn tín dụng có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước vào một đầu mối, tách tín dụng ưu đãi ra khỏi hệ thống ngân hàng thương mại là phù hợp với tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế nước ta. Cho đến nay chỉ có một số ít công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến đề tài này. Vấn đề XĐGN và nguồn vốn ưu đãi phục vụ công tác XĐGN đã được nghiên cứu trên phạm vi cả nước, cũng như ở một số địa phương. Tuy nhiên đối với tỉnh Hà Tĩnh chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập về hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ưu đãi.
Trong quá trình thực hiện tác giả sẽ kế thừa, học tập kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó là những tài liệu tham khảo có giá trị nhất định cho việc nghiên cứu hoàn thành luận văn. Luận án “Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoa hoàn thành vào năm 2009. Dựa vào khung lý thuyết về tấn công đói nghèo của Ngân hàng thế giới và phương pháp đánh giá chính sách đói nghèo, luận án đã tiến hành đánh giá chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam. Từ đó, tác giả đã chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực của mỗi chính sách và đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đến năm 2015.
Luận án tiến sĩ “Sử dụng một số công cụ tài chính nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo ở các tỉnh Tây Nguyên” của TS. Tôn Thu Hiền đã hệ thống hóa và phân 5 tích các vấn đề lý luận về nghèo và sự can thiệp của Chính phủ trong lĩnh vực giảm nghèo. Theo luận án, trong khu vực chính thức, NHCSXH đóng vai trò quan trọng nhất trong việc làm cầu nối tín dụng cho các hộ nghèo được nhận tín dụng để đầu tư phát triển sản xuất. Luận án tiến sĩ “Cơ sở khoa học của việc giảm nghèo bền vững cho các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn” của TS.
Hà Quang Trung năm 2014 đã chỉ ra cần tiếp tục thực chính sách về tín dụng cho người nghèo, nâng mức vay cao hơn, thời gian thực hiện cho vay dài hơn để đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất, kinh doanh của người dân.