CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. KHÁI LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHO THUÊ TÀI CHÍNH. Lịch sử ra đời và phát triển của cho thuê tài chính trên thế giới Theo các thư tịch cổ, các giao dịch thuê tài sản đã xuất hiện từ những năm 2000 - 2800 trước Công nguyên tại thành phố Sumerian của người UR [73, p. Lúc này các thầy tu giữ vai trò người cho thuê và người thuê là các nông dân tự do [62, tr.
Tài sản được đem ra giao dịch rất đa dạng gồm: ruộng đất, súc vật kéo, công cụ sản xuất nông nghiệp, nhà cửa, v. Vào khoảng năm 1700 trước Công nguyên, Vua Babilon là Hamnurabi đã ban hành nhiều văn bản, trong đó có đưa ra những qui định về hoạt động thuê tài sản [83, p. Trong các nền văn minh cổ đại khác, như: Hy Lạp, La Mã, Ai Cập cũng đã xuất hiện các hình thức cho thuê sử dụng đất đai, gia súc, công cụ sản xuất, v. Đầu thế kỷ XIX và, đặc biệt, đầu thập niên 50 của thế kỷ XX giao dịch thuê mua đã có bước phát triển nhảy vọt.
Vào năm 1952, khi công ty tư nhân The United Leasing Corporation [79, p.19-20] ở Hoa Kỳ ra đời và thực hiện hoạt động cho thuê một cách có hệ thống với quy mô giao dịch lớn, đã đánh dấu một bước ngoặt lớn cho sự phát triển của hoạt động cho thuê tài chính. Kể từ đây, hoạt động cho thuê được chia thành hai phương thức chủ yếu: thuê TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 vận hành (hay còn gọi là thuê truyền thống, thuê dịch vụ hoặc thuê hoạt động) và thuê tài chính (hay còn gọi là thuê mua thuần, thuê tư bản). Từ khi xuất hiện phương thức thuê tài chính, các hoạt động giao dịch tín dụng thuê mua đã phát triển nhanh cả về qui mô giao dịch lẫn chủng loại tài sản, thiết bị. Nó đã lan toả rất nhanh sang Châu Âu và mở rộng dần ra nhiều châu lục khác.
Cụ thể: ở Pháp, năm 1960, CTTC đã được công nhận trong luật thuê tài sản với tên gọi "Credit Bail"; Ở Anh, năm 1960, hợp đồng cho thuê đầu tiên có giá trị 18.000 bảng Anh đã được ký kết. Dịch vụ CTTC tiếp tục lan rộng sang Châu Á kể từ đầu thập niên 70 [79, p. Trong thời gian này hoạt động CTTC đã góp phần rất lớn trong việc cung cấp vốn đầu tư phát triển cho nền kinh tế của nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Sự phát triển của sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải và sản xuất nông nghiệp đã dẫn đến sự ra đời nhiều loại tài sản, máy móc thiết bị mới, hiện đại rất phù hợp cho việc thực hiện CTTC.
Điều đó đã thúc đẩy hoạt động CTTC ngày càng phát triển và hoàn thiện để trở thành một trong những công cụ tài trợ cung cấp vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo số liệu thống kê trong năm 1987 giá trị CTTC trên thế giới ước tính đạt tới 107,9 tỷ USD (Chiếm khoảng 25% - 30% tổng số tiền tài trợ cho các giao dịch mua bán thiết bị hàng năm) và có tốc độ gia tăng bình quân hàng năm là 7% [30, tr. Vào những năm 90 con số này đã lên đến 450 tỷ và đến năm 2005 giá trị trao đổi của nó đã đạt mức xấp xỉ gần 1.000 tỷ USD [29, tr. Nhìn chung, sau hơn 50 năm ra đời CTTC đã phát triển trở thành một hoạt động kinh tế phổ biến trên quốc tế.
Và, nếu nhìn một cách khái quát, quá trình phát triển CTTC trên thế giới đã diễn ra theo chu kỳ với 6 giai đoạn khác nhau [62, tr.4-9]: Thuê tài chính (Finance Leases); Thuê tài chính linh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm riêng. Cụ thể: * Giai đoạn 1: Thuê tài chính. Đặc điểm của giai đoạn này là: - Tài sản cho thuê chỉ được xem là hình thức tài trợ, mức độ cạnh tranh trong giai đoạn này thấp.
Hợp đồng cho thuê thường là những hợp đồng hoàn trả toàn phần, không được phép hủy ngang hợp đồng và người thuê sẽ mua tài sản khi hết thời hạn hợp đồng với giá tượng trưng. - Thu nhập của người cho thuê là do những tiết kiệm về thuế xuất phát từ phần khấu hao tài sản đem lại. Và thu được từ sự chênh lệch về lãi suất huy động vốn so với lãi suất tài trợ trừ các chi phí quản lý và các chi phí khác của họ. - Các hợp đồng tài trợ trong giai đoạn này quy định quyền lợi và nghĩa vụ trên tài sản thuê là ngang nhau đối với người thuê.
Người thuê phải thanh toán tất cả mọi chi phí vận hành, bảo trì, bảo hiểm và các loại thuế tài sản. Còn người cho thuê thường tài trợ 100% vốn tài trợ [62, tr. * Giai đoạn 2: Thuê tài chính linh hoạt. Mặc dù phương thức giao dịch vẫn là thuê tài chính nhưng, do gia tăng cạnh tranh, những người cho thuê phải cố gắng làm nổi bật sản phẩm của mình bằng cách tạo ra phương thức thanh toán phù hợp với dòng lưu chuyển vốn của người thuê và có thay đổi linh động trong cơ cấu cho thuê, như: cung cấp thêm dịch vụ bảo trì, sửa chữa, hay cho phép người thuê có quyền lựa chọn khi kết thúc hợp đồng cũng như quyền gia hạn hợp đồng, quyền chọn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 mua tài sản theo giá cố định,… Nói tóm lại, cho thuê tài chính ở giai đoạn này cho phép người thuê có thể thuận lợi hơn và chủ động hơn khi thuê mướn tài sản.
* Giai đoạn 3: Thuê vận hành. Đặc điểm của giai đoạn này là: - Rủi ro đối với giá trị còn lại của thiết bị cho thuê thuộc về người cho thuê. Các loại tài sản thường được sử dụng cho hình thức này rất đa dạng, như: ô tô, máy vi tính, máy văn phòng, nhà làm việc, tàu biển, máy bay, v. - Do người thuê trong giai đoạn này có quyền hủy ngang hợp đồng và xác suất rủi ro rất cao cho người cho thuê nên đòi hỏi người cho thuê phải nâng cao kỹ năng quản lý các hoạt động cho thuê, phát triển các kỹ thuật chống rủi ro và buộc phải định giá thuê tài sản trên cơ sở lợi nhuận sau thuế nhằm tăng mãi lực cho thuê.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự ra đời của thuê vận hành, theo tôi, là do tác động của nguyên tắc kế toán và thuế cùng với áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng dẫn đến thúc đẩy sự chuyên môn hóa tín dụng thuê mua theo sản phẩm. * Giai đoạn 4: Thuê mua đổi mới. Đặc trưng chính của giai đoạn phát triển này là: - Các công cụ tài trợ mới, như: những dịch vụ mang tính khép kín thông qua hình thức tài trợ trọn gói và tài trợ theo dự án đầu tư, đã xuất hiện trong giai đoạn này. - Người cho thuê tìm mọi cách để giảm giá cho thuê bằng hình thức phát triển theo chiều ngang để tận dụng lợi thế quy mô lớn.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Nguyên nhân sự ra đời của thuê mua đổi mới được xác định chủ yếu là do cuộc cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa tín dụng thuê mua với các hình thức tài trợ khác mà còn ngay trong ngành cho thuê ngày một gay gắt hơn. Điều này dẫn tới các nhà cho thuê càng phải nỗ lực tìm kiếm các hình thức tài trợ mới nhằm làm nổi bật ưu thế các dịch vụ tín dụng thuê mua. Thuê mua đổi mới hiện đang phát triển khá nhanh và được áp dụng khá phổ biến ở Nhật Bản [62, tr. * Giai đoạn 5: Thuê mua hoàn thiện.
Đặc trưng chính của giai đoạn phát triển này là: - Nhằm đạt mục tiêu sinh lời trong thị trường hoàn thiện, người cho thuê đã chuyển trọng tâm chú ý từ phương thức tài trợ sang chú trọng vào cách thức vận hành cho thuê nhằm giảm thiểu chi phí, tăng khả năng sinh lợi. Vì vậy, trong giai đoạn này người cho thuê tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào từng ngành công nghiệp và cố gắng cải tiến phương thức hoạt động để trở thành nhà cung cấp dịch vụ với giá thấp. - Trong giai đoạn này sự phát triển của ngành cho thuê đã thúc đẩy mở rộng qui mô các công ty trên cơ sở mua lại hay sát nhập các công ty thuê mua thành những tập đoàn lớn nhằm tăng trưởng thu nhập của công ty. Nguyên nhân ra đời giai đoạn thuê mua hoàn thiện chủ yếu là do ngành cho thuê đã phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Từ đó dẫn đến bão hoà thị trường cho thuê. Người cho thuê tìm cách làm nổi bật dịch vụ của họ, như: tăng vòng quay vốn, linh động trong các phương thức tài trợ và cơ cấu phục vụ khách hàng. Các hoạt động thuê mua ở Hoa Kỳ đang từng bước tiến tới gần giai đoạn thuê mua hoàn thiện nầy [62, tr. *Giai đoạn 6: Tín dụng thuê mua trên mức hoàn thiện.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Trên thực tế chưa có ngành cho thuê tài sản của quốc gia nào tiến đến giai đoạn này. Vì vậy, việc xác định các đặc trưng của giai đoạn này gặp khó khăn. Lịch sử phát triển của ngành cho thuê tài sản đã có từ lâu đời và sẽ còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Sự ra đời và quá trình phát triển của cho thuê tài chính ở Việt Nam.
So với các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới, hoạt động CTTC thâm nhập vào Việt Nam có phần muộn hơn. Ngày 27 tháng 5 năm 1995 Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thể lệ tín dụng thuê mua (Quyết định 149/QĐ-NHS) và ngày 9 tháng 10 năm 1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 64/CP về "Qui chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính Việt Nam". Sau quyết định này, một loạt thông tư liên quan đến CTTC ra đời, như: Thông tư số 03/TT-NHS của ngân hàng nhà nước; Thông tư số 07/TT-BKH/ĐT của Bộ kế hoạch và đầu tư; Thông tư số 61/TT-TCT của tổng cục thuế; V.V… Theo các văn bản qui định trên, cho đến nay đã có 12 công ty CTTC được thành lập.