Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghiện ma túy là một vấn đề xã hội phức tạp, gây suy giảm thể lực, rối loạn tâm thần, thoái hóa nhân cách và thúc đẩy các hành vi vi phạm pháp luật nhằm thỏa mãn cơn nghiện, đồng thời làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cùng nhiều hệ lụy cho an ninh trật tự và phát triển kinh tế - xã hội. Trước tình hình các loại ma túy mới, đặc biệt là ma túy tổng hợp, có xu hướng gia tăng, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng hành lang pháp lý nhằm kết hợp giữa can thiệp y tế và quản lý hành chính trong công tác cai nghiện.

Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là một trong bốn biện pháp xử lý hành chính được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Kể từ năm 2014, thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp này được chuyển giao từ cơ quan hành chính sang Tòa án nhân dân cấp huyện. Sự thay đổi này nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và các cam kết quốc tế. Tuy nhiên, quá trình triển khai áp dụng trên thực tế tại các địa phương còn bộc lộ một số vướng mắc về thẩm quyền, thời hạn, trình tự lập hồ sơ và việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành thủ tục.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Bùi Nam Phương đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Hành chính tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023) với đề tài: "Pháp luật về thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương", dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Ngọc Bích.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích các vấn đề lý luận chung về biện pháp và pháp luật về thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (khái niệm, đặc điểm, vai trò và các yếu tố tác động).
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  3. Khảo sát, phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2017 đến ngày 30/9/2023, chỉ ra các kết quả đạt được và những vướng mắc, tồn tại.
  4. Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục này trong thực tiễn.

Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật về thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Tòa án nhân dân và thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Tập trung vào quy định pháp luật về thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ năm 2014 (thời điểm quy định chuyển giao thẩm quyền xem xét, áp dụng sang Tòa án có hiệu lực).
  • Về không gian và thời gian: Thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương từ năm 2017 (thời điểm địa phương bắt đầu triển khai thực tế trên diện rộng) đến ngày 30/9/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung pháp lý

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, lý luận về cưỡng chế hành chính, thủ tục bán tư pháp và các chuẩn mực bảo đảm quyền con người:

  • Khung hiến định và quốc tế: Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR 1966); các công ước kiểm soát ma túy quốc tế năm 1961, 1971, 1988; Báo cáo rà soát định kỳ phổ quát về nhân quyền (UPR 2009).
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật:
    • Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
    • Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.
    • Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
    • Các Nghị định: Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP, Nghị định số 56/2016/NĐ-CP, Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, Nghị định số 116/2021/NĐ-CP của Chính phủ.
    • Thông tư số 19/2015/TT-BTP của Bộ Tư pháp và Thông tư số 05/2018/TT-BCA của Bộ Công an.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành khoa học pháp lý và khoa học xã hội:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích và tổng hợp: Sử dụng để hệ thống hóa cơ sở lý luận, giải thích và làm rõ nội hàm các quy định pháp luật về thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 với Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; đối chiếu các quy định giữa luật và văn bản dưới luật.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý và phân loại số liệu thực tế về các hồ sơ đề nghị, quyết định áp dụng, đình chỉ và trả lại hồ sơ tại Tòa án nhân dân huyện Nam Sách từ năm 2017 đến 30/9/2023.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn: Đánh giá việc vận hành bộ máy, sự phối hợp liên ngành giữa Công an, Phòng Tư pháp, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội với Tòa án cấp huyện.

Nguồn dữ liệu

  • Báo cáo tổng kết công tác hàng năm và số liệu thống kê thụ lý giải quyết các biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
  • Các công trình nghiên cứu, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ liên quan (Nguyễn Thu Thảo, Đặng Thanh Sơn, Phạm Tiến Thành, Võ Thị Trâm Anh, Vi Phương Linh...).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về pháp luật về thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Chương 1 làm rõ các khái niệm cơ bản và đặc trưng pháp lý của biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

  • Bản chất biện pháp: Là một trong bốn biện pháp xử lý hành chính mang tính cưỡng chế cao (chỉ sau cưỡng chế hình sự), do Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét quyết định áp dụng đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên. Biện pháp này không coi người nghiện là tội phạm mà hướng tới chữa bệnh, cai nghiện, lao động, học văn hóa và học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện.
  • Bản chất thủ tục: Mang tính chất "bán tư pháp", là sự kết hợp giữa thủ tục hành chính (khâu lập, thẩm tra hồ sơ của cơ quan hành chính) và thủ tục tư pháp (phiên họp xem xét, quyết định công khai tại Tòa án).
  • Đặc điểm của pháp luật về thủ tục:
    1. Được quy định trong các văn bản có giá trị pháp lý cao (luật và pháp lệnh) do liên quan trực tiếp đến việc hạn chế quyền tự do thân thể của công dân theo quy định của Hiến pháp.
    2. Đòi hỏi tính chuẩn mực, chặt chẽ cao để làm khuôn mẫu cho các cơ quan công quyền thực thi.
    3. Thể hiện sự chuyển đổi từ mô hình xử lý hành chính thuần túy sang mô hình bảo đảm quyền con người, tiếp cận quy chuẩn quốc tế.
  • Vai trò của pháp luật về thủ tục: Thể hiện cam kết quốc tế của Nhà nước; thiết lập căn cứ pháp lý thống nhất; phân định thẩm quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước giữa Công an, Phòng Tư pháp, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Tòa án và Viện kiểm sát; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị đề nghị; góp phần phòng ngừa vi phạm và hạn chế tái nghiện.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Chủ trương, chính sách đấu tranh phòng, chống ma túy của Đảng và Nhà nước; tình hình kinh tế - xã hội và an ninh trật tự; kinh nghiệm quốc tế và hợp tác khu vực (tiếp giáp biên giới Trung Quốc, Lào, Campuchia, hợp tác tiểu vùng Mê Kông); các điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập; trình độ hiểu biết và ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương

Chương 2 đi sâu vào hệ thống quy định hiện hành và khảo sát tình hình áp dụng trên địa bàn nghiên cứu.

1. Quy định pháp luật hiện hành

  • Đối tượng áp dụng: Người nghiện từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định (đã chấp hành xong hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định giáo dục tại xã/phường/thị trấn mà vẫn còn nghiện, hoặc bị chấm dứt thi hành biện pháp này) và người nghiện từ đủ 18 tuổi trở lên không có nơi cư trú ổn định.
  • Đối tượng loại trừ: Người không có năng lực trách nhiệm hành chính; phụ nữ có thai (có chứng nhận bệnh viện); phụ nữ hoặc người duy nhất nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; người đang tham gia cai nghiện tại cộng đồng hoặc điều trị thay thế bằng Methadone.
  • Thẩm quyền các chủ thể:
    • Xác định tình trạng nghiện: Bác sĩ, y sĩ có chứng nhận/chứng chỉ chuyên môn tại các cơ sở y tế đủ điều kiện theo quy định.
    • Lập hồ sơ đề nghị: Cơ quan Công an (Công an cấp xã hoặc Công an cấp huyện/tỉnh).
    • Kiểm tra tính pháp lý và chuyển hồ sơ: Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện kiểm tra tính pháp lý; Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện xem xét chuyển hồ sơ sang Tòa án.
    • Xem xét, quyết định: Tòa án nhân dân cấp huyện ra quyết định áp dụng; Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
  • Trình tự 4 bước thực hiện:
    • Bước 1: Phát hiện, lập biên bản vi phạm, xác định độ tuổi, xác minh nơi cư trú, thông báo cho người bị đề nghị đọc hồ sơ (05 ngày) và chuyển hồ sơ.
    • Bước 2: Trưởng phòng Tư pháp kiểm tra tính pháp lý (05 ngày làm việc). Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội đối chiếu hồ sơ (07 ngày) và chuyển sang Tòa án.
    • Bước 3: Tòa án thụ lý (trong 01 ngày làm việc), phân công Thẩm phán; Thẩm phán kiểm tra hồ sơ và quyết định mở phiên họp (trong 03 ngày làm việc); mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp (trong 07 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp); gửi quyết định thi hành (trong 03 ngày làm việc).
    • Bước 4: Cơ quan Công an phối hợp đưa người đi thi hành quyết định; cơ sở cai nghiện kiểm tra, tiếp nhận và cấp giấy chứng nhận khi chấp hành xong.

2. Những bất cập, tồn tại trong quy định pháp luật

  • Mâu thuẫn giữa điểm d khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (yêu cầu có tài liệu chứng minh tình trạng nghiện hiện tại) và khoản 1 Điều 5 Thông tư 05/2018/TT-BCA (chỉ yêu cầu biên bản vi phạm hoặc phiếu xét nghiệm dương tính).
  • Khái niệm "không có nơi cư trú ổn định" và tiêu chí "thường xuyên đi lang thang" tại Nghị định số 56/2016/NĐ-CP thiếu định lượng rõ ràng, trong khi nghị định này đã hết hiệu lực từ ngày 01/01/2021 nhưng chậm ban hành văn bản thay thế tương ứng.
  • Điều 8 Thông tư số 05/2018/TT-BCA không ấn định thời hạn cơ quan Công an phải gửi hồ sơ sang Phòng Tư pháp, dẫn đến tình trạng dồn hồ sơ gửi chậm, làm ảnh hưởng thời hạn thụ lý tại Tòa án.
  • Quy trình qua nhiều cấp, nhiều khâu trung gian khiến thời gian hoàn thiện hồ sơ kéo dài từ 01 đến 02 tháng, tạo kẽ hở để người nghiện bỏ trốn khỏi địa phương trước khi Tòa án mở phiên họp.

3. Thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương

  • Về cơ cấu tổ chức: TAND huyện Nam Sách gồm 11 cán bộ, công chức (trong đó có 5 Thẩm phán gồm Chánh án, Phó Chánh án, Chánh văn phòng và 2 Thẩm phán chuyên trách; 100% có trình độ cử nhân luật, 5 Thẩm phán có trình độ Thạc sĩ), 15 Hội thẩm nhân dân, 3 Thư ký, 1 Kế toán kiêm văn thư.
  • Số liệu thụ lý và giải quyết (2017 – 30/9/2023): Tổng cộng 97 hồ sơ được gửi đến Tòa án và đều được xem xét giải quyết.
Năm Số hồ sơ tiếp nhận Số quyết định áp dụng Số hồ sơ trả lại Số hồ sơ đình chỉ
2017 11 11 0 0
2018 17 17 0 0
2019 20 19 1 0
2020 12 12 0 0
2021 16 14 0 2
2022 10 10 0 0
2023 (đến 30/9) 11 11 0 0
Tổng cộng 97 94 1 2

(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm của TAND huyện Nam Sách)

  • Đặc điểm nhân khẩu học và thực tế tố tụng:
    • Đối tượng bị áp dụng chủ yếu là nam giới, độ tuổi tập trung từ 20 đến 35 tuổi.
    • Từ năm 2017 đến năm 2019, phần lớn người nghiện sau khi có kết quả xét nghiệm dương tính với methamphetamine đã trốn tránh, dẫn đến các phiên họp Tòa án diễn ra vắng mặt người bị đề nghị.
    • Từ năm 2020 đến ngày 30/9/2023, 100% các phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại TAND huyện Nam Sách đều diễn ra trong tình trạng vắng mặt người bị đề nghị.

Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Chương 3 đề xuất định hướng hoàn thiện trên cả hai phương diện:

  • Quan điểm chỉ đạo: Bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật; bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp; nâng cao tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp xử lý hành chính; kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa, răn đe và giáo dục tái hòa nhập cộng đồng.
  • Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Sửa đổi, thống nhất quy định về thành phần tài liệu chứng minh tình trạng nghiện trong hồ sơ giữa Luật Xử lý vi phạm hành chính và các thông tư hướng dẫn của Bộ Công an.
    • Ban hành tiêu chí định lượng cụ thể để xác định thế nào là người "không có nơi cư trú ổn định" và "thường xuyên đi lang thang".
    • Quy định cụ thể thời hạn bắt buộc cơ quan lập hồ sơ phải chuyển giao hồ sơ sang Phòng Tư pháp để kiểm tra tính pháp lý.
    • Cắt giảm các khâu trung gian không cần thiết, rút ngắn tổng thời gian lập hồ sơ (hiện kéo dài 1-2 tháng) nhằm ngăn chặn tình trạng người nghiện bỏ trốn trước phiên họp.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện:
    • Tăng cường phối hợp liên ngành giữa Công an cấp xã, Phòng Tư pháp, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội và Tòa án cấp huyện.
    • Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế phục vụ xác định tình trạng nghiện tại tuyến cơ sở.
    • Tăng cường công tác quản lý đối tượng trong thời gian lập hồ sơ và chuẩn bị mở phiên họp Tòa án nhằm khắc phục tình trạng vắng mặt 100% như ghi nhận tại địa bàn Nam Sách.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Tổng hợp bức tranh toàn diện về việc áp dụng thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại một địa bàn cấp huyện cụ thể (Nam Sách, Hải Dương) với tổng số 97 trường hợp trong gần 7 năm (2017 – 30/9/2023).
  • Phản ánh trung thực thực trạng tố tụng tại cơ sở: 94/97 trường hợp bị áp dụng biện pháp, 01 trường hợp trả hồ sơ, 02 trường hợp đình chỉ.
  • Ghi nhận hiện tượng đáng lưu ý trong thực thi: Tỷ lệ vắng mặt người bị đề nghị tại phiên họp Tòa án ở mức tuyệt đối (100%) trong giai đoạn 2020 – 30/9/2023 do đối tượng cố tình lẩn tránh sau khi có kết quả xét nghiệm dương tính.

Đóng góp của đề tài

  • Khóa luận làm rõ tính chất "bán tư pháp" của thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, phân tích cơ chế phân công và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan hành chính và Tòa án.
  • Cung cấp dẫn chứng thực tế về sự xung đột giữa các văn bản hướng dẫn (Luật Xử lý vi phạm hành chính, Thông tư 05/2018/TT-BCA, Nghị định 56/2016/NĐ-CP đã hết hiệu lực).
  • Đưa ra hệ thống giải pháp xuất phát trực tiếp từ các vướng mắc thực tiễn của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn tại địa bàn một đơn vị hành chính cấp huyện (huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) trong giai đoạn 2017 đến ngày 30/9/2023, chưa đối sánh trực tiếp với các huyện, thị xã, thành phố khác trong cùng tỉnh Hải Dương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực tiễn thi hành Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 và Nghị định số 116/2021/NĐ-CP trên phạm vi toàn tỉnh hoặc liên tỉnh; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế bảo đảm sự có mặt của người bị đề nghị tại phiên họp Tòa án và đánh giá hiệu quả quản lý sau cai nghiện bắt buộc.

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên, học viên ngành Luật: Tài liệu hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Tố tụng Hành chính khi nghiên cứu về các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án xem xét, quyết định.
  • Đối với cán bộ thực tiễn: Nguồn tham khảo về nghiệp vụ lập hồ sơ, kiểm tra tính pháp lý và tổ chức phiên họp cho cán bộ Công an, công chức Tư pháp, Lao động - Thương binh và Xã hội, Thẩm phán và Thư ký Tòa án nhân dân cấp huyện.
  • Đối với công tác nghiên cứu: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho các đề tài nghiên cứu về cải cách tư pháp và hoàn thiện pháp luật phòng, chống tệ nạn xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Thẩm quyền quyết định đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thuộc về cơ quan nào?

Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, thẩm quyền xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án cấp huyện.

2. Có bao nhiêu hồ sơ đã được TAND huyện Nam Sách thụ lý, quyết định trong giai đoạn 2017 đến 30/9/2023?

Trong giai đoạn từ năm 2017 đến ngày 30/9/2023, TAND huyện Nam Sách đã thụ lý 97 hồ sơ đề nghị, trong đó ra quyết định áp dụng biện pháp đối với 94 trường hợp, trả lại 01 hồ sơ (năm 2019) và đình chỉ 02 hồ sơ (năm 2021).

3. Những đối tượng nào không bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc?

Theo khoản 2 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, các đối tượng không bị áp dụng gồm: người không có năng lực trách nhiệm hành chính; người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện; phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận; người đang tham gia chương trình cai nghiện tại cộng đồng hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế (Methadone).

4. Bất cập lớn nhất trong quy trình lập hồ sơ được chỉ ra trong khóa luận là gì?

Bất cập lớn nhất là quy trình phải qua nhiều khâu trung gian (Công an -> Phòng Tư pháp kiểm tra tính pháp lý -> Phòng LĐ-TB&XH đối chiếu chuyển hồ sơ -> Tòa án thụ lý mở phiên họp), dẫn đến tổng thời gian kéo dài từ 1 đến 2 tháng. Khoảng thời gian này khiến nhiều đối tượng nghiện bỏ trốn khỏi địa phương trước khi Tòa án có thể tổ chức phiên họp xem xét.

5. Thực trạng tham gia phiên họp của người bị đề nghị tại TAND huyện Nam Sách giai đoạn 2020 – 30/9/2023 diễn ra như thế nào?

Trong toàn bộ giai đoạn từ năm 2020 đến ngày 30/9/2023, 100% các phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại TAND huyện Nam Sách đều phải tiến hành vắng mặt người bị đề nghị do đối tượng trốn tránh sau khi có kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma túy.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Nam Phương đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thủ tục bán tư pháp trong việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Tòa án nhân dân. Thông qua việc phân tích số liệu thực tế 97 hồ sơ tại Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương giai đoạn 2017 – 30/9/2023, đề tài đã chỉ rõ những điểm nghẽn về mâu thuẫn văn bản, tiêu chí nơi cư trú và quy trình thủ tục kéo dài. Các giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp cơ sở tham khảo có giá trị thực tiễn nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành trong công tác phòng, chống ma túy.