Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỪA PHÁT LẠI 1. Quá trình hình thành, phát triển của Thừa phát lại ở Việt Nam 1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 Trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam, việc xét xử do các quan lại phụ trách các địa phương tiến hành và chưa có chức danh TPL; tuy nhiên, thực hiện những công việc giúp cho các quan lại xử án xét ở góc độ nào đó các công việc này gần giống với một số công việc mà TPL sau này được làm như: Truyền đạt các khẩu hiệu, công văn, giấy tờ, chuẩn bị phiên tòa, thông báo việc thi hành án… TPL xuất hiện ở Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc, bắt đầu từ việc Vua Tự Đức ký Hòa ước ngày 05/06/1862 nhượng cho Pháp 6 tỉnh Nam kỳ, từ đó, Pháp trực tiếp áp đặt chế độ cai trị thực dân và áp dụng quy chế về thuộc địa lãnh thổ. Sau này, triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước ngày 06/6/1884 với Pháp, đưa nước ta trở thành một nước đặt dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp, chia thành ba vùng là Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ.
Ở Bắc kỳ và Trung kỳ, nhà Nguyễn vẫn giữ quyền nội trị, quyền tư pháp vẫn thuộc về hoàng đế mặc dù nó đã bị hạn chế đi rất nhiều bởi sự kiểm soát của đại diện chính quyền Pháp [16, tr. Mặc dù chưa có chế định TPL, nhưng những công việc của TPL như trát hầu tòa, truyền phiếu… do các Môn lại, Môn vệ, Nha lại đảm nhiệm, chứng tỏ đã dần dần hình thành một lực lượng chuyên làm nhiệm vụ thi hành án. Ở Nam kỳ, tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống tư pháp được tổ chức giống mô hình ở Pháp và xuất hiện chức danh TPL gần đầy đủ chức năng như ngày nay. Tổ chức và hoạt động của TPL được chính thức ghi nhận trong “Bộ Dân sự tố tụng Nam Việt” ban hành kèm theo Nghị định ngày 16/3/1910 (áp dụng tại khu vực Nam kỳ); “Bộ Dân luật Trung năm 1936-1939”, ban hành kèm bộ Hộ sự, Thương sự tố tụng Trung Việt năm 1942 (áp dụng tại khu vực Trung kỳ); “Bộ Dân luật Bắc năm 1931”, ban hành kèm Bộ Dân sự tố tụng Bắc năm 1917 (áp dụng tại khu vực Bắc kỳ).
7 luan an Tuy được quy định ở các Bộ luật khác nhau ở ba miền, tên gọi ở mỗi miền khác nhau như có nơi gọi là Chưởng tòa (miền Bắc), Mõ tòa (miền Trung), TPL (miền Nam) và chúng đều có nguồn gốc từ tiếng Pháp “Huissier”, dịch ra tiếng Việt đều có nghĩa là Chưởng tòa [16, tr. Chế định TPL ở các bộ luật nói trên hầu hết đều theo khuôn mẫu của mô hình TPL tại Pháp được quy định trong Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 và Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp năm 1807. Công việc của TPL không được xem như một nghề, không có cơ quan quản lý về tổ chức và hoạt động. TPL không phải là thành phần của chính quyền mà chỉ là người được nhà nước giao thực hiện một số công việc mang tính chất hỗ trợ cho hoạt động xét xử của cơ quan tư pháp.
Từ khi được ghi nhận chính thức trong văn bản pháp lý, chức danh TPL do Tổng trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm bằng nghị định, có định rõ trụ sở của TPL và TPL chỉ được thi hành chức trách trong phạm vi quản hạt của Tòa sơ thẩm dân sự. Ở những nơi chưa có TPL thì nhân viên hành chính hoặc cán bộ Tòa án được kiêm nhiệm công việc của TPL. Trong quá trình hoạt động, TPL chịu sự kiểm soát của Hội đồng TPL trong phạm vi quản hạt và chịu sự giám sát của Chưởng lý Tòa thượng thẩm. Ngoài ra, trên bình diện cả nước, hoạt động của TPL còn chịu sự kiểm tra, giám sát của Tổng trưởng Bộ Tư pháp.
Tùy từng mức độ vi phạm có thể bị xử phạt cảnh cáo, khiển trách nhẹ, khiển trách nặng, huyền chức, thay thế, triệu hồi. Để trợ giúp cho công việc của mình, TPL có quyền nhận một thư ký. Thư ký TPL cũng phải đáp ứng những yêu cầu hết sức nghiêm ngặt như: Đủ tuổi quy định (thường là 25 tuổi trở lên), có thời gian thực tập hai năm ở một văn phòng chưởng khế, luật sư hay TPL, đặc biệt phải trải qua kỳ thi do Bộ Tư pháp tổ chức. Nhiệm vụ của TPL gồm các công việc chính sau đây: Một là, làm các truyền phiếu (tống đạt các giấy tờ của tòa án): Tất cả các thông báo của toà án cho các đương sự và người có liên quan đến một vụ tranh chấp trước toà án đều giao cho TPL tống đạt.
Các truyền phiếu phổ biến nhất mà TPL tống đạt là các trát đòi (giấy mời, giấy triệu tập) bị đơn, nguyên đơn, bị cáo dân sự ra hầu toà (có mặt tại toà vào ngày xét xử vụ án). Các giấy này do phòng lục sự 8 luan an (tương tự như thư ký tòa) Toà án lập và giao cho TPL tống đạt tận tay đương sự hoặc nơi cư trú đương sự, lấy chữ ký rồi hoàn lại để lưu hồ sơ và bản sao thì giao cho đương sự. Việc tống đạt này phải được làm theo thủ tục quy định trong các bộ luật tố tụng và kết quả tống đạt phải ghi nhận đầy đủ để xác nhận đương sự có nhận được hay không để làm cơ sở cho việc toà án có xét xử vắng mặt hay không. Ngoài các truyền phiếu phổ biến này, TPL còn tống đạt các loại truyền phiếu khác như: - Trát đòi nhân chứng (giấy mời, giấy triệu tập).
- Trát đòi trách nhiệm dân sự (người có liên quan trách nhiệm dân sự) - Trát đòi giám định viên. - Tống đạt các quyết định tư pháp. Ngoài các trát đòi của toà án,TPL còn truyền các lệnh khác liên quan đến việc giải quyết các vụ tranh tụng như: - Sai áp bảo toàn (kê biên tài sản) tức là sai áp tài sản của một toà án để đảm bảo số nợ mà đương sự có trách nhiệm thanh toán. - Sai áp chế chỉ, hay còn gọi là sai áp chi phó, tức là kê biên một tài vật, một số tiền của con nợ do một người thứ ba nắm giữ nhằm ngăn cản người thứ 3 trao tài vật hoặc số tiền cho con nợ, để bảo đảm số nợ mà con nợ phải trả cho chủ`nợ về sau này không bị tẩu tán.
- Giải trừ sự sai áp này (hủy bỏ việc kê biên) khi hai bên đã tự giải quyết với nhau hoặc do lệnh của toà án. Hai là, làm các công việc lục tống (lập các vi bằng, chứng thư về các sự kiện hành vi nhằm làm chứng cứ): Đây là công việc mà TPL làm theo yêu cầu của toà án (lục tống về tư pháp) hoặc theo yêu cầu của cá nhân, của tổ chức xã hội, công ty hoặc đơn vị hành chính (lục tống không thuộc tư pháp) nhằm thông báo, đốc thúc, sưu tầm, lập vi bằng, công chứng các hành vi xâm phạm đến quyền lợi để xác định 9 luan an các sự kiện thực tế, các sự biểu lộ ý chí của đương tụng (các đương sự và những người liên quan khác trong một vụ án) hoặc cá nhân trong các mối quan hệ xã hội để xác lập các chứng cứ dùng làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp. Các công việc này rất đa dạng và có tầm quan trọng đặc biệt trong việc cung cấp chứng cứ. Các công việc này có thể phân làm 3 loại: - Thứ nhất, là cáo tri (thông cáo) các ý định và các hành vi đã được thực hiện đối với một đối tượng như thông báo cho người thuê nhà biết ý định chấm dứt hợp đồng khi hết hạn, thông báo cho người thuê biết ý định của chủ nhà để người thuê sử dụng quyền tiên mãi (ưu tiên) hoặc sai áp chi phó cho con nợ, đốc thúc con nợ phải trả nợ.
- Thứ hai, là sưu tầm xác định các sự kiện, bằng chứng để đối chứng trước toà, như sưu tầm tài liệu tại các cơ quan, chất vấn lấy lời khai của nhân chứng. - Thứ ba, là vi chứng các sự kiện thực tế như làm vi bằng công chứng (lập vi bằng để ghi nhận - cách hiểu khác với công chứng hiện nay) về các thiệt hại về tài sản, vi bằng công chứng về việc lấn chiếm đất đai. Luật pháp công nhận cho các chứng thư của TPL có giá trị của công chứng thư có nghĩa là các chứng thư do TPL lập đương nhiên được Toà án tin tưởng, sử dụng làm chứng cứ trong việc giải quyết các vụ án và các chứng thư này không thể bị phủ nhận bởi bất cứ chứng cứ nào khác. Chứng thư do TPL lập chỉ có thể không có hiệu lực khi có người muốn phủ nhận giá trị của chứng thư bằng cách kiện TPL về tội giả mạo chứng thư.
Trong trường hợp này, Toà án sẽ cho tiến hành điều tra, và chỉ khi nào cuộc điều tra xác định chứng thư có giả mạo thì TPL sẽ bị truy tố và chứng thư này sẽ vô hiệu. Ngược lại, nếu cuộc điều tra cho thấy là không có giả mạo thì chứng thư vẫn có hiệu lực và người kiện về việc chứng thư giả mạo sẽ bị truy tố tội vu khống TPL. 10 luan an Ba là, phát mại tài sản, trực tiếp thi hành các bản án, quyết định của tòa án. Đây là công tác thi hành án mà hiện nay ở nước ta đang do các Chấp hành viên thực hiện.
Bốn là, thực hiện một số công việc nội bộ trong toà án: Bao gồm thông báo khai mạc, bế mạc phiên tòa, gọi các đương sự, nhân chứng, thi hành lệnh giữ trật tự trong quá trình xét xử của tòa án. Khi toà án xét xử các vụ án, TPL bắt buộc phải có mặt vào ngày giờ phiên toà xét xử để làm các nghi thức nêu trên. Hiện nay, các công việc này trong các phiên tòa do Thư ký phiên tòa, cảnh sát tư pháp đảm nhiệm. Về tổ chức, TPL là công lại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và quản lý hành nghề theo các quy định của pháp luật được hưởng thù lao khách hàng trả theo biểu giá quy định.
TPL không phải là công chức. Để được bổ nhiệm, TPL phải hội đủ một số điều kiện về chuyên môn và đạo đức đảm bảo cho sự trung thực trong thực hiện công tác và phải tuyên thệ trước toà án “Thi hành nhiệm vụ một cách ngay thẳng và chính trực”. Cụ thể là: - Phải là người lương thiện. - Phải qua một kỳ thi chuyên nghiệp hoặc đã từng nắm giữ một số chức vụ trong các cơ quan tư pháp, đảm bảo trình độ chuyên môn và đạo đức.