CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỨ TỰ ƯU TIÊN THANH TOÁN KHI XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 1. Tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm 1. Tài sản bảo đảm (i) Khái niệm tài sản bảo đảm Tài sản bảo đảm là đối tượng của hoạt động xử lý, nó chính là phương tiện (lượng vật chất) để bảo đảm quyền lợi cho bên nhận bảo đảm khi nghĩa vụ được bảo đảm bị vi phạm.1 Do đó, xác định tài sản bảo đảm có mối liên hệ và ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định quyền ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm. Khác với BLDS năm 2005 dành tới 3 điều luật (Điều 320, Điều 321, Điều 322) quy định về tài sản bảo đảm là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, BLDS năm 2015 quy định khái quát chung trong một điều luật về tài sản bảo đảm.
Theo Điều 295 BLDS năm 2015, “Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu. Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.
Trên phương diện sở hữu, nguyên tắc chung được ghi nhận tại Điều 295 BLDS năm 2015 đó là, tài sản bảo đảm “phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm”, trừ hai trường hợp rất đặc thù, đó là cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu. Quy định này nhằm đảm bảo việc xử lý tài sản bảo đảm thông qua hoạt động chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản bảo đảm để thu hồi giá trị tài sản bảo đảm bù đắp cho giá trị nghĩa vụ bị vi phạm. Về loại hình, tài sản bảo đảm có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản; có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Việc xác định trạng thái “hiện có” và “tương lai” của tài sản bảo đảm được thực hiện theo nguyên tắc chung ghi nhận tại Điều 108 BLDS năm 2015.
Theo đó, tài sản hiện 1 Vũ Thị Hồng Yến (2013), Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 8 có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch, còn tài sản hình thành trong tương lai bao gồm: (i) Tài sản chưa hình thành; (ii) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch. Riêng đối với tài sản bảo đảm là nhà, công trình xây dựng, việc xác định tài sản có sẵn, tài sản hình thành trong tương lai còn chịu sự điều chỉnh của Luật Nhà ở năm 2014 (khoản 18, 19 Điều 3), Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 (khoản 3, khoản 4 Điều 3). Về giá trị của tài sản bảo đảm, so với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã bổ sung quy định về giá trị của tài sản bảo đảm tại khoản 4 Điều 295 với nguyên tắc “Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.
Quy định này thể hiện sự tôn trọng thỏa thuận của các bên, góp phần hạn chế tình trạng cơ quan, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu giá trị tài sản bảo đảm phải lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm khi công chứng hợp đồng bảo đảm hoặc đăng ký biện pháp bảo đảm. Từ những khía cạnh pháp lý nêu trên của tài sản bảo đảm, có thể hiểu, tài sản bảo đảm là vật hoặc quyền tài sản được bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm thỏa thuận dùng để bảo đảm quyền của bên nhận bảo đảm khi nghĩa vụ được bảo đảm bị vi phạm2. (ii) Một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ Để đảm bảo khai thác tối đa giá trị của tài sản bảo đảm, Điều 296 BLDS năm 2015 ghi nhận nguyên tắc, một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ. Quy định này kế thừa quy định của Điều 324 BLDS năm 2005.
Theo khoản 1 Điều 296 BLDS năm 2015, điều kiện để một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ là giá trị của tài sản tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Khi dùng tài sản để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ tiếp theo, bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về việc tài sản bảo đảm đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác. Mỗi lần bảo đảm phải 2 Vũ Thị Hồng Yến (2013), tlđd (1), tr. 9 được lập thành văn bản.
Đây là nghĩa vụ có tính chất bắt buộc của bên bảo đảm vì việc tài sản đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác tác động trực tiếp đến quyền của bên dự định giao kết cũng như việc quyết định có chấp nhận dùng tài sản để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ tiếp theo không3. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho bên nhận bảo đảm có đầy đủ thông tin cần thiết về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm4. Trên thực tế, nghĩa vụ thông báo này chỉ có ý nghĩa trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm cho nhiều bên nhận bảo đảm khác nhau; đối với trường hợp chỉ bảo đảm cho việc thực hiện nhiều nghĩa vụ tại một người nhận bảo đảm thì nghĩa vụ thông báo này không cần thiết và không có ý nghĩa5. Quy định về việc một tài sản được dùng để bảo đảm cho việc thực hiện nhiều nghĩa vụ là tiếp cận hợp lý của BLDS năm 2015.
Hệ quả của việc một tài sản được dùng để bảo đảm cho việc thực hiện nhiều nghĩa vụ là có nhiều bên nhận bảo đảm cùng có quyền được bảo đảm trên cùng một tài sản. Điều này đặt ra yêu cầu về xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận tài sản bảo đảm đối với giá trị tài sản bảo đảm thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, vẫn còn có quan điểm tiếp cận khác nhau về việc dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, thể hiện trong các bản án dưới đây. Vụ việc thứ nhất: Công ty Oanh Hoàng “đã dùng 02 bộ hồ sơ xe máy ủi bánh xích D5 và 11 bộ hồ sơ xe ô tô thế chấp cho ông Thiện.
Nhưng trong 13 bộ hồ sơ nói trên có 08 chiếc xe bà Tạ Thị Kim Huệ đã thế chấp cho Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam – Chi nhánh Chợ Mới”6. Tại Bản án số 06/2012/KDTM-ST ngày 12 tháng 04 năm 2012 7, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng thừa nhận cả hợp đồng thế chấp cho ngân hàng và hợp đồng thế chấp cho ông Thiện khi quyết định: “Nếu Công ty vận tải và dịch vụ thương mại 3 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2015, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr. 4 Hồ Quang Huy, “Các quy định của chế định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật dân sự năm 2015”, https://quangtri.vn/webcenter/ShowProperty?nodeId=/UCMServer/TAND056532, ngày truy cập 16/06/2022. 5 Đỗ Văn Đại (2021), Luật các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam Bản án và bình luận bản án, Nhà xuất bản Hồng Đức, tập 1, tr.
6 Bản án số 06/2012/KDTM-ST ngày 12 tháng 04 năm 2012 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. 10 Oanh Hoàng không thanh toán được nợ thì các tài sản thế chấp sau (.) bị phát mãi để thu hồi nợ trả cho Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam theo quy định của pháp luật. Sau khi Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam thu hồi nợ xong, ông Thiện có quyền yêu cầu phát mãi trong các tài sản nói trên và các tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của Công ty TNHH vận tải và dịch vụ thương mại Oanh Hoàng để thu hồi nợ. Vụ việc thứ hai: Vợ chồng anh Thành mua căn nhà số 40 Quốc Hương và “thế chấp chính căn nhà này để vay tiền trả cho người bán giữa năm 2011 thì làm thủ tục đáo hạn và vay lại; năm 2016 không có khả năng thanh toán nên đồng ý để Ngân hàng xử lý tài sản thu hồi nợ.
Quá trình tố tụng, anh Thành đều trình bày thống nhất lý do anh ký vào tờ cam kết ngày 22/6/2012 là với tư cách con của ông Mai, bà Tín theo yêu cầu của ông Ý chứ không có cam kết gì với ông Ý về việc trả nợ thay hay bảo lãnh cho ông Mai, bà Tín”8. Tại Quyết định số 257/2018/DS-GĐT ngày 24 tháng 08 năm 2018, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh 9 nhận định: “Tại thời điểm bà Tín, ông Mai, anh Thành, chị Vân ký giấy cam kết thì căn nhà nêu trên vẫn đang được đồng chủ sở hữu là anh Thành, chị Hạnh thế chấp tại Ngân hàng và thực tế đến năm 2016 anh Thành, chị Hạnh không trả được nợ nên đồng ý để Ngân hàng xử lý bán tài sản này để thanh toán nợ. Do căn nhà số 40 Quốc Hương của anh Thành, chị Hạnh chỉ đảm bảo được cho một khoản vay tại Ngân hàng nên cũng không thể bảo lãnh cho khoản vay khác (khoản vay của ông Mai, bà Tín) theo quy định tại các Điều 361, 362, 363 Bộ luật Dân sự”. Như vậy, khác với vụ việc thứ nhất, trong vụ việc này, tòa án lại ra phán quyết theo hướng không thừa nhận việc dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ.
Hướng xử lý này của Tòa án là không phù hợp với quy định: “Một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.” đã được ghi nhận tại khoản 1 Điều 324 BLDS năm 2005 (được BLDS năm 2015 kế thừa tại khoản 1 Điều 296).