CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÙ LAO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Thù lao lao động Trong cơ chế kinh tế thị trường, quan hệ thuê mướn lao động được thực hiện trên cơ sở hợp đồng lao động kí kết giữa người sử dụng lao động và người lao động. Mọi điều khoản hai bên kí kết phải phù hợp với Bộ Luật lao động.
Trong các điều khoản đó có các quy định về việc doanh nghiệp thực hiện chế độ thù lao lao động đối với người lao động. Thù lao lao động là "phần" người lao động nhận được do họ tham gia vào quá trình lao động của doanh nghiệp; thù lao lao động thường được biểu hiện ở thu nhập dưới các hình thức tiền lương và tiền thưởng, và các lợi ích phi tài chính. Còn có thể hiểu, thù lao lao động là tất cả các khoản mang tính chất tài chính và phi tài chính mà người lao động nhận được thông qua mối quan hệ thuê mướn giữa họ với tổ chức. Về nguyên tắc, thù lao lao động chỉ được trả khi công việc đã hoàn thành.
Ở các nước phát triển người ta dùng khái niệm trả công lao động (hay thù lao lao động) để chỉ các giá trị vật chất và phi vật chất mà người lao động nhận được trong quá trình làm thuê. Theo Đỗ Thị Tươi (2018), “Thù lao lao động là tất cả những lợi ích mà người lao động nhận được thông qua mối quan hệ làm việc giữa họ với tổ chức”. Có thể tiếp cận kết cấu thù lao lao động theo nhiều cách khác nhàu như Thù lao gián tiếp và thù lao trực tiếp; Thù lao cơ bản, khuyến khích tài chính 8 và phúc lợi; Thù lao tài chính và thù lao phi tài chính. Luận văn tiếp cận kết cấu thù lao lao động gồm thù lao tài chính và thù lao phi tài chính.
Thù lao tài chính Theo Nguyễn Quốc Tuấn (2006), thù lao tài chính còn được gọi là thù lao vật chất, bao gồm: Thù lao vật chất trực tiếp như lương công nhật, lương tháng, tiền hoa hồng và tiền thưởng. Thù lao vật chất gián tiếp bao gồm chính sách mà Công ty áp dụng như: Bảo hiểm nhân thọ, y tế, các loại trợ cấp xã hội; các loại phúc lợi bao gồm các kế hoạch về hưu, an sinh xã hội, đền bù cho công nhân làm việc trong môi trường độc hại, làm việc thay ca, làm việc ngoài giờ làm việc vào ngày nghỉ lễ…; các trợ cấp giáo dục, trả lương trong trường hợp vắng mặt vì nghỉ hè, nghỉ lễ, ốm đau, thai sản… [10] Theo Đỗ Thị Tươi (2018), "Thù lao tài chính là tất cả các lợi ích tài chính mà NLĐ nhận được thông qua mối quan hệ thuê mướn giữ họ và tổ chức. Nó bao gồm các khoản như lương cơ bản, phụ cấp lương, tiền thưởng, hoa hồng, phân chia năng suất, lợi nhuận, bảo hiểm, trợ cấp xã hội, phúc lợi tài chính. Trong đó, lương cơ bản là nền tảng của hệ thống thù lao" [4].
Như vậy, theo quan điểm này thù lao tài chính bao gồm các khoản tiền lương và phụ cấp lương; các khoản tiền thưởng/khuyến khích tài chính và các khoản phúc lợi tài chính. Thù lao tài chính là các khoản lợi ích vật chất thể hiện bằng tiền mà người lao động nhận được từ doanh nghiệp. Các khoản này bao gồm tiền lương (tiền công) và phụ cấp lương, tiền thưởng và các phúc lợi tài chính mà người lao động nhận được từ việc hao phí sức lao động của mình cho doanh nghiệp. Cơ cấu thù lao lao tài chính có thể được tiếp cận theo 3 thành phần: thù lao cơ bản, các khuyến khích tài chính, các phúc lợi tài chính.
Trong phạm vi 9 luận văn này, tác giả tiếp cận thù lao tài chính theo 3 thành phần: Tiền lương, khuyến khích tài chính và phúc lợi tài chính. Nội dung thù lao tài chính trong doanh nghiệp 1. Tiền lương Trong quan hệ lao động, tiền lương là nội dung các bên đặc biệt quan tâm, quyết định đến sự ổn định, bền vững của quan hệ lao động. Từ góc độ kinh tế, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi hoàn thành công việc theo thoả thuận.
Với người sử dụng lao động, tiền lương là một trong những yếu tố đầu vào của sản xuất, cấu thành nên chi phí sản xuất, vì vậy người sử dụng lao động cần cân đối nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận trong hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Với người lao động, tiền lương là thù lao, là khoản bù đắp hao phí sức lao động mà họ nhận được trong quá trình tham gia lao động, sản xuất. Đương nhiên, trong tương quan về lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, tiền lương vừa có sự mâu thuẫn, vừa có sự thống nhất và đòi hỏi sự điều chỉnh của pháp luật ở những giới hạn nhất định. Theo Công ước 95 về Bảo vệ Tiền lương của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), quy định Điều 1 thuật ngữ “tiền lương” là sự trả công hoặc thu nhập, bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm.
Tiền lương được trả một cách đều đặn, trừ phi đã có sự dàn xếp thích hợp khác để bảo đảm trả lương vào những định kỳ đều đặn, 10 những định kỳ để trả lương sẽ do pháp luật hoặc quy định quốc gia ấn định, hoặc do một thoả ước tập thể hay một phán quyết của trọng tài ấn định. Khi hợp đồng lao động kết thúc, việc thanh toán dứt điểm toàn bộ tiền lương phải trả sẽ được thực hiện theo pháp luật hoặc quy định quốc gia, thoả ước tập thể, hay phán quyết của trọng tài; nếu không có như vậy, thì phải được thực hiện trong một thời hạn vừa phải, theo những điều khoản của hợp đồng.“ [12] Theo Điều 90 Bộ luật Lao động 2019, "Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thoả thuận" và "Tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc". Theo cách hiểu này, tiền lương có thể được trả dựa trên kết quả thực hiện công việc, theo vị trí chức danh công việc. [11] Theo Đỗ Thị Tươi & Đoàn Thị Yến (2020), Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa chủ sử dụng lao động (hoặc đại diện của chủ sử dụng lao động) và người lao động, là số tiền mà chủ sử dụng lao động trả cho người lao động khi người lao động thực hiện một công việc nhất định và đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[5] Tiền lương là công cụ quan trọng trong thù lao tài chính. Tiền lương trong doanh nghiệp là số tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động khi người lao động thực hiện công việc. Cách tính trả lương cần thiết kế phù hợp gắn với vị trí công việc đảm nhận, kết quả làm việc và năng lực của người lao động. Tùy theo từng đối tượng, nhóm đối tượng cụ thể, doanh nghiệp xác định phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền lương của doanh nghiệp với đối tượng đó.
Tiền lương là một trong các công cụ tạo động lực lao động, nếu thiết kế hệ thống lương phù hợp thì tiền lương có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả làm việc, đồng thời tiền lương mang tính cạnh tranh, tăng vị thế của doanh 11 nghiệp và thu hút được lao động giỏi về cống hiến cho doanh nghiệp. Ngược lại, nếu hệ thống tiền lương không phù hợp sẽ không tạo được động lực cho người lao động, không khai thác được tiềm năng và không giữ chân được người lao động. Có 2 hình thức trả lương phổ biến là trả lương theo sản phẩm và trả lương theo thời gian. [5] * Hình thức trả lương sản phẩm Hình thức trả lương sản phẩm là hình thức trả lương căn cứ vào đơn giá tiền lương trên một đơn vị sản phẩm hay một chi tiết công việc và sản lượng thực tế (thể hiện bằng số lượng và chất lượng sản phẩm) do người lao động/ nhóm người lao động hoàn thành.
Hình thức trả lương sản phẩm áp dụng chủ yếu đối với công nhân trực tiếp sản xuất trong các doanh nghiệp. Ngoài ra, có thể áp dụng trả lương sản phẩm cho nhân viên kinh doanh, hoặc một số công đơn việc mà kết quả lao động có thể cân, đo, điểm được (định mức, định lượng được). Hình thức trả lương sản phẩm cũng được áp dụng đối với công nhân phụ, mà kết quả hoạt động của công nhân phụ có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động của công nhân chính. Để hình thức trả lương sản phẩm được chính xác, hiệu quả, phát huy được tối đa tác dụng, cần đảm bảo các điều kiện sau: - Đơn giả phải được xác định chính xác: Đơn giá là một trong các cơ sở để trả lương sản phẩm.
Nếu đơn giả không chính xác, tiền lương sản phẩm của người lao động sẽ không được tính đúng. Nếu đơn giá tính cao, tiền lương sản phẩm trả cho người lao động cao (không phù hợp) sẽ ảnh hưởng đến chi phi của doanh nghiệp, đội chi phí lên cao hơn so với mức cần thiết. Từ đó, ảnh hưởng đến hạch toán thu chi, đến hiệu quả đầu tư vào lương cũng như lợi nhuận doanh nghiệp. Nếu đơn giá tính thấp, tiền lương của người lao động thấp, không được tính đủ, làm giảm động lực lao động của người lao động.
12 Cuối cùng, ảnh hưởng đến kết quả lao động, hiệu quà hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Làm tốt công tác tổ chức phục vụ nơi làm việc: Tổ chức phục vụ nơi làm việc có ảnh hưởng đến tính thuận lợi, thuận tiện trong quá trình sản xuất. Tổ chức phục vụ nơi làm việc thể hiện qua cách bố trí, sắp xếp nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, các điều kiện về ánh sáng, độ ẩm, thông gió,. Tổ chức phục vụ tốt nơi làm việc có tác dụng làm giảm các lãng phí không cần thiết trong quá trình lao động, góp phần tăng năng suất lao động, hiệu quả làm việc.