phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn có kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về thu hút FDI trong lĩnh vực y tế. Phƣơng pháp nghiên cứu và khung phân tích. Thực trạng thu hút FDI trong lĩnh vực Y tế của Việt Nam.
Định hƣớng và một số giải pháp đẩy mạnh thu hút FDI vào ngành y tế Việt Nam. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ THU HÚT FDI TRONG LĨNH VỰC Y TẾ 1. Tổng quan hình hình nghiên cứu Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nƣớc và quốc tế nghiên cứu về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI dƣới nhiều góc độ khác nhau và đã đƣợc công bố trên các chuyên đề, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các bài viết trên các báo chuyên khảo, tạp chí nghiên cứu khoa học… Dƣới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến đề tài: 1.
Những nghiên cứu về thu hút FDI nói chung Đánh giá tình hình thu hút FDI vào Việt Nam, tác giả Nguyễn Đăng Bình (2011) trong bài viết “Một số giải pháp thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoài đến năm 2020”, đã nhận định dòng vốn FDI đã có những đóng góp nhất định vào tăng trƣởng và phát triển kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, ĐTNN cũng có những mặt hạn chế nhƣ vốn ĐTNN tăng thấp trong thời gian gần đây và phục hồi chậm sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới; đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, đầu tƣ vào nông nghiệp và nông thôn, điện, nƣớc, tài chính, tín dụng, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng,. chiếm tỷ lệ còn thấp và chậm đƣợc cải thiện [4, tr. Tác giả Phùng Xuân Nhạ (2013) với sách chuyên khảo “Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: Lý luận và Thực tiễn” đã tiếp tục bổ sung, phát triển các kết quả nghiên cứu đã có, phân tích một cách có hệ thống, cập nhật các vấn đề lý luận và thực tiễn của FDI ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; tập trung phân tích các luận cứ khoa học và làm rõ thực trạng các chính sách cũng nhƣ kết quả hoạt động FDI ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua, từ đó đƣa ra một số gợi ý điều chỉnh chính sách, biện pháp điều tiết các hoạt động thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI ở Việt Nam [21, tr.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tuấ n (2005) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triể n kinh tế ở Việt Nam” đã phân tích thực trạng thu hút FDI và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam. Đề tài cũng đã đƣa ra các nhân tố ảnh hƣởng đến môi trƣờng đầu tƣ ở Việt Nam và các giải pháp điều chỉnh, khắc phục theo hƣớng tạo môi trƣờng đầu tƣ thông thoáng hơn, hấp dẫn hơn. Các giải pháp đƣợc tác giả nhấn mạnh chủ yếu là chính sách ƣu đãi trong xúc tiến đầu tƣ; đẩy mạnh đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng; đào tạo nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực; ƣu đãi về thuế, phí và tiếp tục cải cách hành chính [28, tr. Bên cạnh các nghiên cứu trong nƣớc thì các nghiên cứu của nƣớc ngoài về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài cũng đã chỉ ra những đóng góp của FDI: Theo bài viết về “Khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài trong hoạt động kinh tế”, đƣợc đăng trong tạp chí “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trong lĩnh vực Bất động và tài chính của các nƣớc công nghiệp” (Foreign Direct Investment in the Real and Financial Sector of Industrial Countries, 2003, Pages 37-60) của tác giả Magnus Blomstrƣm và các đồng sự đã cho rằng: thái độ đối với đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của các quốc gia đã thay đổi đáng kể trong vài thập kỷ gần đây, nhƣ hầu hết các nƣớc đã tự do hóa chính sách để thu hút đầu tƣ từ các tập đoàn đa quốc gia nƣớc ngoài (MNCs).
Trên kỳ vọng rằng MNCs sẽ tăng việc làm, xuất khẩu hoặc doanh thu thuế hoặc một số kiến thức đƣa ra bởi các công ty nƣớc ngoài có thể mang tính “lan tỏa” sang các doanh nghiệp trong nƣớc. Vì vậy, Chính phủ các nƣớc đã giảm bớt rào cản nhập khẩu khác nhau và mở ra các lĩnh vực mới đầu tƣ nƣớc ngoài, ƣu đãi đầu tƣ để khuyến khích các công ty nƣớc ngoài đầu tƣ nhƣng có sự giới hạn một số phạm vi, các hoạt động này bao gồm chính sách ƣu đãi tài chính nhƣ miễn thuế và giảm thuế cho các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, khuyến khích tài chính. Những nghiên cứu về thu hút FDI trong lĩnh vực y tế Hiện nay chƣa có đề tài nghiên cứu trong nước nào của Việt Nam về việc thu hút FDI trong lĩnh vực y tế mà chủ yếu chỉ nghiên cứu vào một số ngành dịch vụ khác nhƣ: đề tài “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) để phát triển 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa” của Nguyễn Tăng Huy (2011), đề tài “Thu hút FDI cho phát triển bền vững các ngành dịch vụ Việt Nam” của Phạm Thanh Tuyền (2012),. Về phía các đề tài nghiên cứu nước ngoài vào lĩnh vực y tế: trong nghiên cứu về “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và thương mại dịch vụ y tế”, tác giả Richard D Smith, Khoa Kinh tế Y tế - Luật và Đạo đức, Đại học East Anglia, Anh đã cho rằng: toàn cầu hóa là một thách thức phải đối mặt với sức khoẻ ngƣời làm chính sách.
Một khía cạnh quan trọng của việc này là việc cải tiến công nghệ sẽ tạo cơ hội cho việc tăng “đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) trong chăm sóc sức khỏe”. Tuy nhiên, dƣờng nhƣ có ba vấn đề mà nổi lên nhƣ là quan trọng nhất: (i) dù là nguồn đầu tƣ nƣớc ngoài hoặc trong nƣớc thì đều ảnh hƣởng đến hệ thống y tế quốc gia; (ii) môi trƣờng pháp lý quốc gia và “sức mạnh” của nó sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc các nhà FDI quyết định đầu tƣ vào ngành y tế [2, tr. Tóm lại, liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, có rất nhiều công trình, tạp chí, sách, báo, luận án tiến sĩ, thạc sĩ… trong và ngoài nƣớc đã nghiên cứu và xuất bản. Tuy nhiên, những công trình này chủ yếu là trình bày về cơ sở lý luận của FDI, các chính sách và biện pháp thu hút FDI; phân tích, đánh giá thực trạng thu hút FDI của Việt Nam và một số địa phƣơng trong cả nƣớc; thực tiễn về tác động của FDI đối với quá trình đổi mới kinh tế, làm rõ tính hai mặt của dòng vốn FDI, đề xuất các chính sách, giải pháp cốt lõi của nhà nƣớc đối với việc thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào nƣớc ta; Tuy nhiên, với bối cảnh mới chƣa có công trình trong nƣớc và ngoài nƣớc nào nghiên cứu tình hình thu hút nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI vào lĩnh vực y tế của Việt Nam.
Vì vậy, đề tài nghiên cứu này không trùng lặp với các đề tài đã đƣợc công bố trƣớc đây. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thu hút FDI vào ngành y tế 1. Khái niệm và hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Hội nghị Liên hợp quốc về thƣơng mại và phát triển UNCTAD đƣa ra khái niệm FDI trong Báo cáo đầu tƣ thế giới năm 1996: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân (nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ) đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh nước ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp)”.
Quỹ tiền tệ quốc tế IMF trong báo cáo cán cân thanh toán hàng năm đã đƣa ra định nghĩa về FDI: “FDI là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư – hosting country), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư – source country) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp”. Theo tổ chức Thƣơng mại Thế giới, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc (nƣớc chủ đầu tƣ) có đƣợc một tài sản ở một nƣớc khác (nƣớc thu hút đầu tƣ) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phƣơng diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trƣờng hợp, cả nhà đầu tƣ lẫn tài sản mà ngƣời đó quản lý ở nƣớc ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trƣờng hợp đó, nhà đầu tƣ thƣờng hay đƣợc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản đƣợc gọi là “công ty con” hay “ chi nhánh công ty”. Luật đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2000 của Việt Nam: “FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền bạc hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”. Theo quy định của Luật Đầu tƣ 2005, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tƣ tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Trong đó, nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tƣ tại Việt Nam, đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tƣ do nhà đầu tƣ bỏ vốn đầu tƣ và tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ.
Theo quy định của Luật Đầu tƣ 2010, Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nƣớc ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nƣớc ngoài thực hiện hoạt động đầu tƣ kinh doanh tại Việt Nam. Điều này đƣợc hiểu “Đầu tư trực tiếp nước ngoài hay FDI là việc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.