mở đầu và kết thúc của "ran", phần kế tiếp đề cập đến nghĩa của nó trong tiếng Việt. Kỹ năng thuyết trình đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập và làm việc của sinh viên Đại Khảo sát phân tích kỹ năng thuyết trình học. Tại Đại học Thủ Dầu Một, sinh viên vẫn chưa bằng tiếng Trung của sinh viên năm ba Lê Hà Mỹ ThS. Bùi Đức 34 Đại học có nhiều cơ hội thuyết trình ở trên lớp.
Kỹ năng ngành ngôn ngữ Trung Quốc trường Đại Phương Anh thuyết trình tiếng Trung đối với sinh viên chuyên học Thủ Dầu Một ngành tiếng Trung rất là quan trọng. Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “ Khảo sát phân tích kỹ năng thuyết trình bằng tiếng Trung của sinh viên năm ba ngành ngôn ngữ Trung Quốc trường Đại học Thủ Dầu Một ” để nghiên cứu. Ở chương một, nêu rõ một số khái niệm về thuyết trình. Tiếp theo là chương hai, nêu cụ thể về quá trình nghiên cứu đề tài này.
Chương ba, nội dung chủ yếu là về kết quả điều tra phân tích của 100 bạn sinh viên năm ba chuyên ngành tiếng Trung trường Đại học Thủ Dầu Một. Chương bốn, đề xuất một số phương pháp nâng cao kỹ năng thuyết trình tiếng Trung. Hy vọng đề tài này sẽ giúp cho mọi người hiểu sâu hơn về tầm quan trọng của kỹ năng thuyết trình bằng tiếng Trung. Thán từ là bộ phận độc đáo của lời nói trong hệ thống ngôn ngữ, có tác dụng thu hút sự chú ý, bộc lộ cảm xúc, làm nổi bật ngữ nghĩa, nâng cao giọng điệu và phép tu từ, chức năng biểu đạt của các thán từ thường làm cho ngôn ngữ trở nên phong phú, sinh động hơn.
Thán từ trong tiếng Hán và tiếng Việt được coi là một loại từ đặc biệt. Bài viết này phân tích, khảo sát và tìm hiểu các đặc điểm ngữ nghĩa, Nghiên cứu đặc điểm của thán từ trong đặc điểm ngữ âm, đặc điểm ngữ pháp, v., bao gồm Đặng Thị Trà ThS. Bùi Đức 35 Đại học tiếng Hán hiện đại và đối chiếu với tiếng cả thuộc tính, định nghĩa và vị trí cú pháp của các My Anh Việt thán từ trong tiếng Hán và trong tiếng Việt tiến hành so sánh, thảo luận về sự giống và khác nhau giữa các thán từ trong tiếng Hán và tiếng Việt, sau đó tóm tắt lại để giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hai hệ thống ngôn ngữ và sử dụng chúng hợp lý, nâng cao kỹ năng ứng dụng và đạt được hiệu quả hơn trong giao tiếp. Hi vọng rằng nghiên cứu này có thể giúp những người học tiếng Trung-Việt sử dụng các thán từ một cách hiệu quả.
Bổ ngữ xu hướng là một loại lớn trong hệ thống của Phân tích bổ ngữ xu hướng “Qilai” trong Vũ Thị Thu ThS. Bùi Đức bổ ngữ tiếng Hán. Nhiều học giả trong và ngoài 36 Đại học tiếng Trung và cách dịch trong tiếng Hồng Anh nước đã tiến hành nghiên cứu bổ ngữ xu hướng Việt trong tiếng Hán, trong số đó có cả học giả Việt Nam. Trong quá trình học tiếng Hán, việc học bổ ngữ xu hướng trong tiếng Hán được coi là một trong những khó khăn.
Người viết nhận thấy học sinh Việt Nam rất dễ mắc lỗi khi sử dụng bổ ngữ xu hướng, kể cả những bạn mới bắt đầu học tiếng Hán hay những bạn đã học tiếng Hán lâu năm. Để giúp các bạn học sinh Việt Nam nắm vững hơn bổ ngữ xu hướng “Qilai” trong tiếng Hán, người viết sẽ phân tích về bổ ngữ xu hướng “Qilai” trong tiếng Hán và cách dịch tương ứng của nó trong tiếng Việt. Nội dung chính của báo cáo như sau: Chương 1: Phân tích chức năng ngữ pháp và ngữ nghĩa của bổ ngữ xu hướng “Qilai” trong tiếng Hán. Chương 2: Phân tích chức năng ngữ pháp và ngữ nghĩa của động từ xu hướng trong tiếng Việt.
Chương 3: Tìm ra cách dịch tương ứng của bổ ngữ xu hướng “Qilai” trong tiếng Việt. Thành ngữ động vật là một bộ phận không thể thiếu trong thành ngữ cả tiếng Hán và tiếng Việt, số lượng cũng khá phong phú. Vì hình ảnh con vật được dùng để biểu đạt ý nghĩa của thành ngữ, nên những ẩn dụ của thành ngữ loài vật vừa sinh động, sâu sắc, hàm ý văn hoá vừa mạnh mẽ, rõ ràng. Trong bài báo cáo này nghiên cứu, so sánh, phân tích các biểu tượng Nghiên cứu hình tượng động vật (lấy ví động vật lấy ngựa, hổ, rồng làm ví dụ , đây là những dụ con Đặng Thị ThS.
Bùi Đức biểu tượng giàu ý nghĩa tượng trưng, xuất hiện 37 Đại học Ngựa, con Hổ, Khánh Vy Anh thường xuyên trong thành ngữ tiếng Hán và tiếng con Rồng) trong văn hóa Trung Quốc và Việt, đồng thời phân tích ý nghĩa tượng trưng của Việt Nam thông qua thành ngữ các loài vật trong văn hóa Trung Quốc và Việt Nam. Từ đó, việc so sánh thành ngữ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt sẽ giúp phát hiện những nét tương đồng và khác biệt về văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam, đặc biệt là quan niệm về nhận thức và tình cảm của nhân dân hai nước về hình tượng loài vật. Câu bị động là một trong những điểm ngữ pháp thường gặp trong giao tiếp thường ngày. Nó không những làm phong phú cách biểu đạt của ngôn ngữ mà còn thể hiện các đặc điểm riêng của từng vùng miền, từng quốc gia.
Cho tới hiện nay, vấn đề trong Tiếng Việt có tồn tại câu bị động hay không vẫn là một trong những vấn đề còn gây nhiêu tranh cãi của các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ. Tuy nhiên, rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã chỉ ra ở một góc nhìn khác trong tiếng Việt có tồn tại câu bị động, Nghiên cứu so sánh câu bị động trong ThS. Bùi Đức 38 Đại học Bùi Thị Trang cũng có những điểm đặc trưng nhất định biểu hiện tiếng Hán Anh câu bị động. Còn trong tiếng Hán, câu bị động là một trong những điểm ngữ pháp hay gặp trong thi cử cũng như trong giao tiếp thường ngày.
Hơn nữa, mấy năm gần đây, người học tiếng Hán ở Việt Nam ngày càng nhiều nên tôi đã lấy đề tài này làm đề tài nghiên cứu của mình nhằm giúp các bạn học có thể có cái nhìn rõ nét hơn về câu bị động trong tiếng Hán và trong tiếng Việt, từ đó có thể chỉ ra cái giống và khác trong hai ngôn ngữ này để phực vụ cho việc học tập của mình. Văn hóa tặng quà trong ngày Tết ở Trung Quốc và ở Việt Nam không chỉ là nét đẹp văn hóa truyền thống có từ lâu đời mà còn là dịp để gia đình xum họp, con cháu thể hiện tình cảm yêu thương của mình đối với ông bà, cha mẹ, thể hiện sự quan tâm đến bạn bè, để tri ân khách hàng,. Mỗi một món quà ở mỗi quốc Nghiên cứu so sánh văn hoá tặng quà Huỳnh Mộng ThS. Bùi Đức gia đều mang những ý nghĩa khác nhau, có thể là 39 Đại học Tết ở Trung Quốc và Việt Nam Tố Như Anh những món quà được đón nhận hoặc là những món quà kiêng kỵ.
Tôi hy vọng bài nghiên cứu này giúp mọi người hiểu sâu hơn về văn hóa tặng quà Tết của người Trung Quốc và người Việt Nam, giúp mọi người hiểu được những nét đặc sắc trong văn hóa tặng quà và những điều kiêng kỵ khi tặng quà, có thể tránh được những sự cố đáng tiếc không nên có khi tặng quà ngày Tết. Bài nghiên cứu được chia thành hai chương: Chương 1: Giới thiệu về nguồn gốc văn hóa tặng Tết ở Trung Quốc và Việt Nam, chương 2: So sánh văn hóa tặng quà Tết ở Trung Quốc và Việt Nam Là một trong những màu cơ bản nhất trong thế giới của chúng ta, màu đen có mặt ở khắp mọi nơi trong cuộc sống của con người. Vì vậy, tôi muốn so sánh ý nghĩa ngữ nghĩa và văn hóa của từ "đen" trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại. Bởi vì giữa hai ngôn ngữ này có nhiều điểm tương đồng, ví dụ, từ "黑" và "đen" là những từ quan trọng để diễn đạt màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại.
Tuy nhiên, Trần Thị ThS. Bùi Đức ngoài một số điểm tương đồng, thì cũng có nhiều Phân tích so sánh "黑"và "đen" trong 40 Đại học tiếng Trung hiện đại và từ tương ứng Phương điểm khác biệt vì xét cho cùng Trung Quốc và Việt Anh trong tiếng Việt Thanh Nam là hai quốc gia khác nhau, nên khái niệm ngôn ngữ, truyền thống lịch sử, môi trường tồn tại, kinh nghiệm sống, phong tục tập quán và các khía cạnh khác đều có những đặc điểm riêng. Đó là nguyên nhân dẫn đến từ “đen” có những ý nghĩa khác nhau ở hai quốc gia. Cách người Việt tiếp nhận văn hóa Trung Hoa cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự khác biệt giữa ngữ nghĩa và ý nghĩa của từ màu “đen”.
" Phân tích và so sánh từ" luôn được coi là đề tài phổ biến trong học ngoại ngữ. Loại đề tài này cung cấp những tài liệu kiến thức cụ thể rõ ràng cho việc học và dạy tiếng Trung. Người học ngoại ngữ hai cần Phân tích so sánh "想"và "要" trong hiểu rõ và phân biệt được khi gặp từ cùng nghĩa, để ThS. Bùi Đức biết được chúng được sử dụng trong những ngữ cảnh 41 Đại học tiếng Trung hiện đại và từ tương ứng Hồ Thị Liên Anh trong tiếng Việt phù hợp.
Trong bài này chúng tôi chọn "想" và "要" trong tiếng Hán hiện đại và "muốn" trong tiếng Việt làm đối tượng phân tích và so sánh. Cả ba từ này, thường dễ bị nhầm lẫn bởi chúng tương đồng nghĩa, và một số cách dùng của chúng tương đồng. Nội dung bài này chủ yếu đi sâu vào phân tích và so sánh về ngữ nghĩa, ngữ pháp và cách dùng của "想","要 "," muốn ". Tôi hi vọng thông qua bài báo cáo này người học có thể hiểu rõ hơn và phân biệt được ba từ "想", "要" và "muốn", đồng thời giúp cho người học có thể sử dụng chúng phù hợp.
Muốn học tốt tiếng Trung thì việc học từ vựng vô cùng quan trọng, nó là yếu tố cơ bản để giao tiếp và học tập tiếng Trung. Bởi vì không có ngữ pháp chúng thể chỉ có thể diễn đạt rất ít, nhưng nếu như không có từ vựng chúng ta không diễn đạt được gì hết, nhất là những bạn mới tiếp xúc tiếng Trung, thì việc nắm từ vựng sẽ không dễ dàng gì. Nắm được Nghiên cứu phương pháp học từ vựng nhiều từ vựng, các kĩ năng nghe nói đọc viết cũng môn đọc viết của sinh viên năm nhất Nguyễn Thị ThS.