Luận văn thạc sĩ về thông điệp người lao động ngành than khoáng sản Việt Nam trên báo chí

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh thông điệp về người lao động ngành than khoáng sản việt nam trên báo chí, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

124
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn

0.7. Đóng góp mới của luận văn

0.8. Bố cục luận văn

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÁO CHÍ VÀ THÔNG ĐIỆP VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG NGÀNH THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM TRÊN BÁO CHÍ

1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1. Khái niệm truyền thông

1.1.2. Khái niệm thông điệp

1.1.3. Khái niệm người lao động

1.1.4. Khái niệm ngành Than - Khoáng sản Việt Nam

1.1.5. Khái niệm báo chí

1.1.6. Khái niệm thông điệp về người lao động ngành Than - Khoáng sản Việt Nam trên báo chí

1.2. Vai trò và nhiệm vụ của báo chí trong chuyển tải thông điệp về người lao động

1.3. Áp dụng lý thuyết đóng khung trong việc giải mã thông điệp về người lao động ngành Than - Khoáng sản Việt Nam

1.4. Áp dụng lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự trong việc giải mã thông điệp về người lao động ngành Than - Khoáng sản Việt Nam

1.5. Một số tiêu chí đánh giá chất lượng thông điệp về người lao động ngành Than - Khoáng sản Việt Nam trên báo chí

1.6. Bối cảnh thực tế và những vấn đề thách thức của ngành Than - Khoáng sản Việt Nam hiện nay

1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÔNG ĐIỆP VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG NGÀNH THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM TRÊN CÁC BÁO THUỘC DIỆN KHẢO SÁT

2.1. Giới thiệu vài nét về các báo thuộc diện khảo sát

2.2. Tạp chí Than - Khoáng sản Việt Nam

2.3. Thực trạng thông điệp về người lao động ngành Than - Khoáng sản Việt Nam trên các báo thuộc diện khảo sát

2.3.1. Tần suất, số lượng

2.3.2. Phân tích nội dung thông điệp

2.3.3. Phân tích hình thức thông điệp

2.4. Những thành công và hạn chế trong thực hiện thông điệp về người lao động ngành Than - Khoáng sản Việt Nam trên báo chí

2.4.1. Thành công và nguyên nhân thành công

2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG ĐIỆP VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG NGÀNH THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM TRÊN BÁO CHÍ

3.1. Những vấn đề đặt ra

3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp về người lao động ngành Than - Khoáng sản Việt Nam trên báo chí

3.2.1. Tăng cường phối hợp giữa các cấp có liên quan, ngành Than - Khoáng sản Việt Nam và báo chí trong việc tổ chức thực hiện thông điệp

3.2.2. Đổi mới nội dung và hình thức thể hiện tác phẩm báo chí truyền thông

3.2.3. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà báo viết về người lao động ngành Than - Khoáng sản Việt Nam

3.2.4. Coi trọng và thường xuyên nghiên cứu nhu cầu công chúng

3.2.5. Đối với cơ quan quản lý báo chí và lãnh đạo ngành Than - Khoáng sản Việt Nam

3.2.6. Đối với tòa soạn báo chí

3.2.7. Đối với đội ngũ phóng viên, biên tập viên

3.3. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC HÌNH, BẢNG

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ĐHQGHN

Tóm tắt

I. Tổng quan về thông điệp người lao động ngành than khoáng sản Việt Nam

Ngành than khoáng sản Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Thông điệp về người lao động trong ngành này không chỉ phản ánh thực trạng mà còn thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với họ. Qua báo chí, hình ảnh người lao động được truyền tải một cách sinh động, giúp công chúng hiểu rõ hơn về những khó khăn và thách thức mà họ phải đối mặt.

1.1. Khái niệm thông điệp về người lao động ngành than

Thông điệp về người lao động ngành than là những thông tin, hình ảnh được truyền tải qua các phương tiện truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò và đóng góp của họ trong ngành công nghiệp khai thác.

1.2. Vai trò của báo chí trong việc truyền tải thông điệp

Báo chí có vai trò quan trọng trong việc phản ánh đời sống, công việc của người lao động ngành than. Thông qua các bài viết, phỏng vấn, báo chí giúp nâng cao nhận thức và tạo sự đồng cảm từ cộng đồng.

II. Thách thức trong việc truyền tải thông điệp về người lao động ngành than

Mặc dù báo chí đã có những nỗ lực trong việc truyền tải thông điệp về người lao động ngành than, nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Những thông tin chưa đầy đủ, hình ảnh chưa sinh động khiến công chúng chưa hiểu rõ về cuộc sống và công việc của họ.

2.1. Thiếu thông tin và sự quan tâm từ xã hội

Nhiều người dân vẫn chưa có cái nhìn toàn diện về người lao động ngành than. Điều này dẫn đến sự thiếu hiểu biết và đồng cảm từ cộng đồng.

2.2. Hạn chế trong nội dung và hình thức truyền thông

Nội dung thông điệp thường đơn điệu, thiếu sự sáng tạo. Hình thức thể hiện cũng chưa thu hút được sự chú ý của độc giả, làm giảm hiệu quả truyền thông.

III. Phương pháp nâng cao chất lượng thông điệp về người lao động ngành than

Để nâng cao chất lượng thông điệp về người lao động ngành than, cần có những phương pháp cụ thể. Việc đổi mới nội dung và hình thức truyền thông là rất cần thiết để thu hút sự quan tâm của công chúng.

3.1. Đổi mới nội dung thông điệp

Cần xây dựng nội dung thông điệp phong phú, đa dạng, phản ánh chân thực cuộc sống và công việc của người lao động. Điều này giúp tạo sự đồng cảm và hiểu biết từ cộng đồng.

3.2. Tăng cường hình thức truyền thông

Sử dụng các hình thức truyền thông hiện đại như video, infographic để truyền tải thông điệp một cách sinh động và hấp dẫn hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ thông điệp về người lao động ngành than

Thông điệp về người lao động ngành than không chỉ có giá trị truyền thông mà còn có thể ứng dụng vào thực tiễn. Những thông điệp này có thể giúp nâng cao nhận thức và tạo ra những thay đổi tích cực trong chính sách lao động.

4.1. Tác động đến chính sách lao động

Thông điệp rõ ràng và mạnh mẽ có thể tác động đến việc xây dựng và điều chỉnh chính sách lao động, đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

4.2. Tạo sự kết nối giữa người lao động và xã hội

Thông điệp hiệu quả giúp tạo ra sự kết nối giữa người lao động và cộng đồng, từ đó nâng cao sự đồng cảm và hỗ trợ từ xã hội.

V. Kết luận về tương lai của thông điệp người lao động ngành than

Tương lai của thông điệp về người lao động ngành than phụ thuộc vào sự đổi mới và sáng tạo trong cách thức truyền tải. Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan truyền thông và ngành than để đảm bảo thông điệp được truyền tải một cách hiệu quả nhất.

5.1. Tầm quan trọng của sự hợp tác

Sự hợp tác giữa báo chí và ngành than là rất cần thiết để tạo ra những thông điệp chất lượng, phản ánh đúng thực trạng và nhu cầu của người lao động.

5.2. Định hướng phát triển thông điệp trong tương lai

Cần có những định hướng rõ ràng trong việc phát triển thông điệp về người lao động ngành than, nhằm nâng cao nhận thức và tạo ra những thay đổi tích cực trong xã hội.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh thông điệp về người lao động ngành than khoáng sản việt nam trên báo chí

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về báo chí và thông điệp về người lao động ngành Than - Khoáng sản Việt Nam trên báo chí Chương 2: Thực trạng thông điệp về người lao động ngành Than - Khoáng sản Việt Nam trên các báo thuộc diện khảo sát Chương 3: Vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp về người lao động ngành Than - Khoáng sản Việt Nam trên báo chí 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÁO CHÍ VÀ THÔNG ĐIỆP VỀ NGƢỜI LAO ĐỘNG NGÀNH THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM TRÊN BÁO CHÍ 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm truyền thông Trong một xã hội không ngừng phát triển, truyền thông trở thành một khái niệm được nhiều người biết tới. Truyền thông đã thành lĩnh vực có vai trò to lớn trong xã hội, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống con người.

Truyền thông là hoạt động truyền đạt thông tin giữa hai hoặc nhiều thành viên [9, tr. Nó thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh như: ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khác như thông qua điện tử, hóa chất, hiện tượng vật lý và mùi vị. Truyền thông đòi hỏi phải có người gửi, một tin nhắn, một phương tiện truyền tải và người nhận hiểu thông điệp của người gửi. Quá trình truyền thông có thể chia thành các yếu tố cơ bản như sau (xem hình 1.

Các yếu tố của quá trình truyền thông 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đó: Nguồn: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông. Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận thông tin. Ba thành tố chính của thông điệp là: ai, làm gì, để đạt được điều gì. Thông điệp cần có tác động tới thái độ, hành vi của người đón nhận thông điệp.

Kênh truyền thông: là các phương tiện, con đường, cách thức truyền tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Người nhận: là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông. Phản hồi: là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ người nhận trở về nguồn phát. Nhiễu: là yếu tố gây ra sự sai lệch thông tin trong quá trình truyền thông.

Có nhiều cách chia các loại truyền thông. Trong cuốn Báo chí truyền thông hiện đại do Nguyễn Văn Dững chủ biên, ông đã dựa theo kênh truyền tải thông điệp, đã chia truyền thông thành hai loại: truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp [15, tr. Truyền thông trực tiếp có tác động tới từng cá nhân hoặc nhóm qua việc tiếp xúc trực tiếp tại nhà, cơ quan, hội nghị. Trong đó, truyền thông tới từng cá nhân có thể tiến hành qua việc tiếp xúc tại nhà, tại cơ qua, gọi điện thoại, gửi thư.

Truyền thông tới từng nhóm có thể qua hội thảo, tập huấn, huấn luyện, họp nhóm, tham quan, khảo sát. Truyền thông với số lượng người lớn có thể qua những buổi biểu diễn lưu động, tham gia hội diễn, các chiến dịch, tham gia lễ hội, các ngày kỷ niệm. Kênh này có thể thay đổi nhận thức và hành vi của người nhận trong suốt quá trình truyền thông song số lượng người chịu tác động ít hơn. Truyền thông gián tiếp và các loại truyền thông khác: tác động tới 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người nhận gián tiếp qua phương tiện truyền thông đại chúng như: sách, báo, mạng internet, tivi, đài, pano, áp phích, tờ rơi, phim ảnh.

Nó có thể tác động nhanh tới số đông, tạo được dư luận xã hội song không thể hỗ trợ được người nhận trong quá trình tiếp nhận. Tuy nhiên, hiện nay, truyền thông đã có bước phát triển mới khi vừa kết hợp tính trực tiếp vừa kết hợp tính gián tiếp. Đây là loại truyền thông mới qua điện thoại, hội nghị trực tuyến, truyền hình trực tuyến, tọa đàm online. Nó phá vỡ ranh giới của truyền thông truyền thống, tạo hiệu quả nhanh, mạnh nhất.

Theo tác giả Nguyễn Văn Dững trong cuốn Cơ sở lí luận báo chí, thông điệp là một yếu tố quan trọng trong chu trình truyền thông. Thông điệp phát đi như thế nào sẽ được đóng khung trong nhận thức của công chúng như thế ấy. Thông điệp có sức mạnh ảnh hưởng lớn đến nhận thức, điều khiển hành vi của công chúng và định hướng dư luận xã hội. Mục đích cuối cùng của truyền thông là thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của cộng đồng xã hội [16, tr.

Từ các quan điểm về truyền thông trên, tác giả luận văn cho rằng: Truyền thông là một quá trình trao đổi thông tin giữa cá nhân với cá nhân, giữa nhóm với nhau, giữa cá nhân với nhóm và ngược lại, mục đích là đạt được sự hiểu biết lẫn nhau nhằm tạo sự kiên kết, hiểu biết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi. Khái niệm thông điệp Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, người ta dùng chữ “Message” để chỉ “thông điệp”. Nó cũng có thể hiểu là lời phán truyền, truyền đạt, truyền thông. Trong tiếng Trung, chữ “thông điệp” (Tongdie) cũng mang nội dung tương tự.

Theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Thông điệp là điều quan trọng muốn gửi gắm thông qua hình thức hoạt động, một việc làm mang tính biểu trưng nào đó” [56, tr. Ngày nay, thuật ngữ “thông điệp” được sử dụng như một khái niệm 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com then chốt trong khoa học báo chí - truyền thông. Trong báo chí, “thông điệp” mang ý nghĩa rộng lớn, có thể bằng chữ viết, hình ảnh, lời nói, kí tự. Nhưng điều quan trọng là tùy đối tượng hướng tới, “thông điệp” phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ dễ hiểu, dễ nhớ và dễ làm theo.

Các thông điệp của truyền thông đại chúng mang tính chất công cộng, nghĩa là bất kỳ ai được tiếp cận thì sẽ biết đến thông điệp đó. Về cơ bản, cấu trúc thông điệp có 2 lớp: lớp bên ngoài và lớp bên trong. Ở hình thức thể hiện, thông điệp bao gồm: lời nói, hình ảnh, cỡ chữ, kí tự. tức là những tín hiệu học mà chúng ta nhìn thấy bằng mắt, nghe thấy được bằng tai.

Còn phương thức truyền tải chính là các phương tiện như: báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử. Vào những năm 60 của thế kỷ XX, GS. Herbert Marshall McLuhan người Canada nổi tiếng về lý thuyết truyền thông đã đưa ra biểu thức: phương tiện truyền thông là thông điệp. Với tuyên bố này, ông nhấn mạnh, các kênh khác nhau, không chỉ về mặt nội dung, mà còn liên quan đến cách truyền tải, đánh thức và làm thay đổi suy nghĩ và giác quan của chúng.

Lớp bên trong chính là nội dung thông tin mà đối tượng tiếp nhận có thể đọc hiểu và thay đổi trong ý thức, hành vi. Bản chất nội dung luôn bị chi phối bởi tính mục đích của chủ thể sáng tạo ra tức là sẽ có động cơ hoặc ý định sâu xa của tác giả. Mindy McAdam, khoa Báo chí, trường Đại học Tổng hợp Florida - cựu Biên tập viên tờ báo The Washington Post của Mỹ, một bài viết hay thì phải đáp ứng được các tiêu chí: thuyết phục chúng ta về một điều gì đó; làm chúng ta thắc mắc về điều gì đó mà chúng ta vẫn đinh ninh; thúc giục chúng ta hành động; khai sáng chúng ta mang lại nhận thức mới; gây xúc động; kết nối tính nhân văn của chúng ta; các con số có thể làm thành bài viết hay tuyệt không? Như vậy, có nghĩa là nếu thông tin mang tính chất trung tính thì thông 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điệp lại nhấn mạnh đến tính chủ thể và mục đích phát tin, tức là chú ý đến đối tượng tác động. Trong báo chí, thông điệp có nhiều loại: (1) thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới; (2) thông điệp cụ thể là thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông; (3) thông điệp tài liệu là loại thông điệp ẩn chứa trong các tài liệu, dữ liệu, có thể dễ dàng nhìn thấy bằng trực quan; (4) thông điệp ẩn là loại thông điệp mà nhận biết nó cần phải tư duy tích cực, năng lực trừu tượng, tinh tế, có sự liên tưởng sâu xa.

Thông điệp khi được sáng tạo xong, qua phương tiện truyền thông sẽ xâm nhập vào công chúng lần lượt theo các bước: tiếp nhận thông điệp => nhận biết nội dung của thông điệp => chấp nhận thông điệp => tin tưởng thông điệp => quyết tâm hành động, thay đổi hành vi cá nhân => kêu gọi, vận động người khác cùng thực hiện, cùng thay đổi hành vi. Như vậy, trong dòng chảy của thông điệp, khâu cuối cùng là cực kỳ quan trọng vì vậy để tạo nên những thông điệp phù hợp và có ích cho cộng đồng, cần tiến hành khâu thử nghiệm đến khâu hoàn thiện và kiểm tra các điều kiện sản xuất thông điệp. Dù việc tạo ra thông điệp với mục đích gì thì nó cũng xuất phát từ lợi ích trước hết của “nguồn”, phóng viên, biên tập viên, của cơ quan báo chí. Thông điệp chính là một yếu tố quan trọng của quá trình truyền thông.

Trước đây, mỗi khi đề cập tới truyền thông, người ta thường nhắc tới công thức nổi tiếng của Harold D. Lasswell: Ai nói cái gì? Bằng kênh nào? Cho ai? Hiệu quả gì? (Who says what in which channel to whom with what effect?). Tuy nhiên, giới hạn của công thức này là chỉ hình dung quá trình truyền thông như một đường thẳng giữa một đầu là người phát tin và đầu kia là người nhận tin. Người nhận tin vô hình chung trở thành đối tượng tiếp nhận một cách thụ động.

Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn khác biệt, công chúng luôn có những cách phản ứng khác nhau đối với thông tin tiếp nhận. Vì thế về 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sau các nhà nghiên cứu thường quan niệm quá trình truyền thông theo một dạng đường vòng khép kín, bao gồm 4 giai đoạn chính: phát tin (emission), truyền tin (transmission), nhận tin (reception) và phản hồi (feedback). Mô hình truyền thông theo chu kỳ này quan niệm rằng: một thông điệp, sau khi được phát ra, luôn luôn gây ra một phản ứng nào đó về phía người nhận tin và do đó người nhận tin sẽ có một thông điệp phản hồi gửi lại người phát tin ban đầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ