Chương 1. Cơ sở lí luận nghiên cứu thông điệp về một số vụ việc nổi bật của ngành y tế trên báo điện tử Chương 2: Thực trạng thông điệp về một số vụ việc nổi bật của ngành y tế trên báo điện tử thuộc diện khảo sát Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp, kiến nghi nâng cao chất lượng thông điệp về một số vụ việc nổi bật của ngành y tế trên báo điện tử Việt Nam hiện nay 12 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU THÔNG ĐIỆP VỀ MỘT SỐ VỤ VIỆC NỔI BẬT CỦA NGÀNH Y TẾ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 1. Hệ thống các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Truyền thông Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là “Commumicare” có nghĩa là biến nó thành thông thường, chia sẻ truyền tải.
Truyền thông thường được mô tả như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/một nhóm người sang một người/hoặc một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu. Theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, năm 2008, truyền thông được hiểu dưới góc độ động từ: “Truyền thông là truyền dữ liệu theo những quy tắc và cách thức nhất định như mở rộng mạng lưới truyền thông đến từng cơ sở” [71, tr. Truyền thông thường được xem xét như một quá trình truyền đạt thông tin, thực hiện qua ngôn ngữ hoặc các cử chỉ, điệu bộ hoặc các hành vi biểu lộ cảm xúc, vì thế mà một số nhà nghiên cứu đã phân biệt truyền thông với hai loại hình là truyền thông bằng ngôn ngữ (verbal) và truyền thông không bằng ngôn từ (non-verbal). Khái niệm truyền thông có thể được định nghĩa như sau: “Truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các môi quan hệ giữa con người với con người” [32, tr.
Như vậy, truyền thông được xem xét như một quá trình và thiết lập được các mối liên hệ giữa con người với con người ở nơi này với người ở nơi khác, tổ chức này với tổ chức khác được xem như bối cảnh không gian thì truyền đạt thông tin từ thời điểm này đến thời điểm khác trong chiều dài lịch sử nhờ vào các phương tiện lưu trữ văn bản, hình ảnh, âm thanh. được xem 13 z như là bối cảnh thời gian. Thông tin được truyền đạt nhanh nhất đến cộng động dân cư chính là nhờ vào quá trình truyền thông. Vì thế, trong tác phẩm Sức mạnh của tin tức truyền thông, Michael Schudson đã nhận định rằng “nhiều thông tin đến với người dân nói chung qua truyền thông chứ không qua chuyên gia trung gian” [37, tr.
Khi nhắc đến quá trình truyền thông và mô hình của quá trình ấy, người ta thường nhắc đến công thức nổi tiếng của Harold D. Lasswell là “Who says what in which channel to whom with what effect” (ai nói cái gì, bằng kênh nào, cho ai và có hiệu quả gì?) [37, tr. Mô hình truyền thông theo Harold D. Lasswell như một công thức rút gọn, nhưng vẫn liệt kê được những lĩnh vực nghiên cứu của truyền thông như: nghiên cứu về nguồn tin hay người phát tin “ai nói”, phân tích nội dung thông tin “nói cái gì”, nghiên cứu các phương tiện thông tin “nói qua kênh nào”, nghiên cứu công chúng hay độc giả hay khán giả “nói cho ai”, và khảo sát các tác động truyền thông nơi công chúng “có hiệu quả gì”.
Giới hạn của công thức này là tính chất tuyến tính một chiều từ người phát đến người nhận trong đó người nhận tin dễ được cảm nhận như là một đối tác thụ động. Chính vì thế mà sau này, các nhà nghiên cứu thường quan niệm quá trình truyền thông liên cá nhân với một quy trình khép kín trong đó bao gồm bốn giai đoạn chính. Quan niệm này được các nhà ngôn ngữ học Roman Jakobson phác thảo một cách khá hoàn chỉnh và mô hình này được Michel de Coster phác họa thành sơ đồ với trình tự bốn giai đoạn chính như sau: phát tin, truyền tin, nhận tin và phản hồi. Mối liên hệ giữa cá nhân với xã hội thể hiện qua quá trình truyền thông.
Có sự khác biệt giữa hai khái niệm “truyền thông đại chúng và “các phương tiện truyền thông đại chúng” (mass media) được dùng để chỉ những công cụ kỹ thuật hay những kênh mà nhờ vào đó người ta mới có thể tiến hành quá 14 z trình truyền thông đại chúng, nghĩa là việc phổ biến, loan truyền thông tin ra mọi người. Trong tiếng Anh, chữ mass media bao gồm hai thành phần: “mass” có nghĩa là “đại chúng” và “media” có nghĩa là “phương tiện”. Do đó, thuật ngữ “các phương tiện truyền thông đại chúng” có nghĩa là các công cụ trung gian có chức năng vận chuyển thông tin ra các tầng lớp công chúng. Còn thuật ngữ “truyền thông đại chúng” (mass communication) là thuật ngữ được dùng để chỉ một quá trình xã hội.
Qúa trình truyền tải thông tin một cách rộng rãi ra công chúng [32, tr. Điểm cơ bản để xác định một hành vi nằm trong quá trình truyền thông đại chúng tùy thuộc vào việc hành vi đó có nằm trong quá trình truyền tải và tiếp nhận thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng, chứ không phải là việc sử dụng thiết bị kỹ thuật nào. Theo nhà nghiên cứu Tạ Ngọc Tấn trong công trình nghiên cứu Cơ sở lí luận báo chí, Nxb Lí luận chính trị cho rằng “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau” [65, tr. Ở đây, tác giả đã đề cập đến việc trao đổi thông tin là trao đổi thông điệp, nâng mức khái quát hóa thông tin thành thông điệp.
Thông tin ở đây không còn là thông tin thuần túy mà trở thành thông điệp. Mục đích căn bản là đạt được sự hiểu biết lẫn nhau giữa người phát đi thông điệp và nhận thông điệp. Nguyễn Văn Dững trong cuốn sách Truyền thông – lí thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Lí luận chính trị lại đưa ra định nghĩa truyền thông là “quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm. chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, nhóm, cộng động, xã hội” [24, tr.
Qua nghiên cứu và tìm hiểu của tác giả có thể liệt kê ra đây cả chục các định nghĩa, khái niệm, quan niệm khác nhau về truyền thông. Mỗi tác giả lại đưa 15 z ra các khái niệm dưới góc nhìn, cách tiếp cận khác nhau về truyền thông. Song, các khái niệm đó vẫn hội tụ được những điểm chung cơ bản nhất, truyền thông là trao đổi thông tin, thông tin được mã hóa ở các dạng khác nhau. Từ các quan điểm về truyền thông trên, tác giả luận văn cho rằng: Truyền thông là một quá trình trao đổi thông tin giữa cá nhân với cá nhân, giữa nhóm với nhau, giữa cá nhân với nhóm và ngược lại, mục đích là đạt được sự hiểu biết lẫn nhau nhằm tạo sự kiên kết, hiểu biết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi.
Thông điệp Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, người ta dùng chữ “Message” để chỉ “thông điệp”. Nó cũng có thể hiểu là lời phán truyền, truyền đạt, truyền thông. Trong tiếng Trung, chữ “thông điệp” (Tongdie) cũng mang nội dung tương tự. Theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Thông điệp là điều quan trọng muốn gửi gắm thông qua hình thức hoạt động, một việc làm mang tính biểu trưng nào đó” [56, tr.
Ngày nay, thuật ngữ “thông điệp” được sử dụng như một khái niệm then chốt trong khoa học báo chí - truyền thông. Trong báo chí, “thông điệp” mang ý nghĩa rộng lớn, có thể bằng chữ viết, hình ảnh, lời nói, kí tự. Nhưng điều quan trọng là tùy đối tượng hướng tới, “thông điệp” phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ dễ hiểu, dễ nhớ và dễ làm theo. Các thông điệp của truyền thông đại chúng mang tính chất công cộng, nghĩa là bất kỳ ai được tiếp cận thì sẽ biết đến thông điệp đó.
Về cơ bản, cấu trúc thông điệp có 2 lớp: lớp bên ngoài và lớp bên trong. Ở hình thức thể hiện, thông điệp bao gồm: lời nói, hình ảnh, cỡ chữ, kí tự. tức là những tín hiệu học mà chúng ta nhìn thấy bằng mắt, nghe thấy được bằng tai. Còn phương thức truyền tải chính là các phương tiện như: báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử.
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, GS. Herbert 16 z Marshall McLuhan người Canada nổi tiếng về lý thuyết truyền thông đã đưa ra biểu thức: phương tiện truyền thông là thông điệp. Với tuyên bố này, ông nhấn mạnh, các kênh khác nhau, không chỉ về mặt nội dung, mà còn liên quan đến cách truyền tải, đánh thức và làm thay đổi suy nghĩ và giác quan của chúng. Lớp bên trong chính là nội dung thông tin mà đối tượng tiếp nhận có thể đọc hiểu và thay đổi trong ý thức, hành vi.
Bản chất nội dung luôn bị chi phối bởi tính mục đích của chủ thể sáng tạo ra tức là sẽ có động cơ hoặc ý định sâu xa của tác giả. Mindy McAdam, khoa Báo chí, trường Đại học Tổng hợp Florida - cựu Biên tập viên tờ báo The Washington Post của Mỹ, một bài viết hay thì phải đáp ứng được các tiêu chí: thuyết phục chúng ta về một điều gì đó; làm chúng ta thắc mắc về điều gì đó mà chúng ta vẫn đinh ninh; thúc giục chúng ta hành động; khai sáng chúng ta mang lại nhận thức mới; gây xúc động; kết nối tính nhân văn của chúng ta; các con số có thể làm thành bài viết hay tuyệt không? Như vậy, có nghĩa là nếu thông tin mang tính chất trung tính thì thông điệp lại nhấn mạnh đến tính chủ thể và mục đích phát tin, tức là chú ý đến đối tượng tác động. Trong báo chí, thông điệp có nhiều loại: (1) thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới; (2) thông điệp cụ thể là thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông; (3) thông điệp tài liệu là loại thông điệp ẩn chứa trong các tài liệu, dữ liệu, có thể dễ dàng nhìn thấy bằng trực quan; (4) thông điệp ẩn là loại thông điệp mà nhận biết nó cần phải tư duy tích cực, năng lực trừu tượng, tinh tế, có sự liên tưởng sâu xa.