Chương I: Điều khoản cơ bản => Chương II: Hiệu lực của Bộ luật hình sự => Chương III: Tội phạm => Chương IV: Những trường hợp loại trừ TNHS => Chương V: Thời hiệu truy cứu TNHS, miễn TNHS => Chương VI: Hình phạt => Chương VII: Các biện pháp tư pháp => Chương VIII: Quyết định hình phạt => Chương IX: Thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt => Chương X: Xóa án tích => Chương XI: Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội => Chương XII: Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội => Chương XIII đến Chương XXVI: Các tội phạm cụ thể. Xét về bản chất của chế định về thời hiệu truy cứu TNHS: Nó thuộc nhóm các biện pháp tha miễn trong luật hình sự. Qua nghiên cứu, phân tích bản chất pháp lý của các quy phạm PLHS Việt Nam hiện hành về các biện pháp tha lOMoARcPSD|17917457 miễn quy định tại 22 điều của BLHS năm 2015 (các điều 27-29; 60-73; 88-89; 105-107). Trong lần pháp điển hóa thứ ba luật hình sự Việt Nam vừa qua, các nhà làm luật nước ta tiếp tục ghi nhận về mặt lập pháp trong BLHS năm 2015 chế định thời hiệu trong luật hình sự như trong BLHS năm 1999 với bốn điều luật đề cập đến hai chế định nhỏ thuộc nó, bao gồm: Chế định thời hiệu truy cứu TNHS (các điều 27-28) và chế định thời hiệu thi hành bản án hình sự (các điều 60-61) Nghiên cứu về chế định thời hiệu trong luật hình sự thì có thể nhận thấy: Thời hiệu truy cứu TNHS là một chế định nhỏ trong chế định lớn về thời hiệu trong luật hình sự, bao gồm 02 chế định nhỏ tương ứng trong nó là: Thời hiệu truy cứu TNHS và thời hiệu thi hành bản án kết tội.
Trong BLHS năm 2015 (cũng như BLHS 1999 trước đây), các nhà làm luật không đưa ra định nghĩa pháp lý thế nào là thời hiệu mà chỉ đưa ra định nghĩa cho hai yếu tố cấu thành nên chế định này, đó là thời hiệu truy cứu TNHS và thời hiệu thi hành bản án tương ứng tại khoản 1 Điều 27 và khoản 1 Điều 60 của Bộ luật. Việc xác định vị trí (chỗ đứng) của chế định thời hiệu truy cứu TNHS trong luật hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu một cách khoa học, toàn diện, có hệ thống về chế định này. Thậy vậy, theo chủ nghĩa duy vật biện chứng “quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật” [34, tr.
Do đó, trong quá trình nghiên cứu chúng ta cần phải tiếp tục đặt ra câu hỏi để trả lời là chế định này có mối quan hệ gì với những chế định khác trong luật hình sự, sự giống và khác nhau giữa chúng là gì(?). Nếu so sánh chế định thời hiệu truy cứu TNHS với các chế định lớn khác trong luật hình sự như chế định tội phạm, hình phạt,… thì rất khập khiễng và không tương xứng, tuy nhiên trong luật hình sự chế định này có ý nghĩa quan trọng nhất định, không chỉ góp phần thể hiện rõ nét nguyên tắc nhân đạo của lOMoARcPSD|17917457 chính sách hình sự nói chung và của luật hình sự nói riêng, mà còn cho phép khẳng định trình độ của nhà làm luật trên một loạt các phương diện như: kỹ thuật lập pháp, trình độ pháp lý và kiến thước luật pháp cũng như mức độ pháp chế, dân chủ và bảo đảm các quyền con người bằng PLHS trong một quốc gia. Đây là một trong những chế định được ghi nhận ở nhiều các quốc gia trên thế giới. Cao Thị Oanh cho rằng: “Cơ sở chủ yếu để xây dựng các quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là việc truy cứu trách nhiệm hình sự không còn cần thiết nữa”.
Vì vậy, thời hạn cụ thể mà luật quy định để không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội nữa phải được xây dựng trên cơ sở tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Nói cách khác, căn cứ để tiến hành phân hoá trách nhiệm hình sự trong các quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chính là tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và yêu cầu đặt ra là tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm càng cao thì các thời hạn được quy định cụ thể phải càng dài và ngược lại. Các yếu tố tác động đến chế định thời hiệu trong Luật hình sự Việt Nam Tố tụng hình sự là quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể thực hiện chức năng của TTHS, có quyền và nghĩa vụ khi tiến hành tố tụng nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội là đòi hỏi tất yếu của bất kỳ nhà nước nào nhằm mục đích trừng trị và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ các quan hệ xã hội thống trị, trật tự pháp luật và quyền con người, quyền công dân.
Mục đích này chỉ trở thành hiện thực, có hiệu lực trên thực tế khi tội phạm xảy ra được chứng minh, xử lý theo một quy trình nhất định. Thời hạn tố tụng hình sự là một bộ phận của thủ tục tố tụng của quá trình giải quyết vụ án, có mối liên hệ và thuộc vào thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng ở các giai đoạn tố tụng. Thời hạn tố tụng vì thế cùng với các qui định khác của luật TTHS có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án, tính hiệu quả của hoạt động tố tụng và trong việc bảo đảm quyền con người lOMoARcPSD|17917457 Việc quy định thời hiệu trong luật hình sự phải dựa trên cơ khoa học, phù hợp với thực tiễn đấu tranh xử lý tội phạm, thực hiện mục đích giải quyết vụ án nhanh chóng, khách quan, công bằng, tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong quá trình giải quyết vụ án. Thời hạn tố tụng hình sự hợp lý phải đáp ứng được yêu cầu bảo đảm để các chủ thể tiến hành tố tụng có đủ thời gian cần thiết thực hiện các hoạt động, hành vi tố tụng, đồng thời ngăn ngừa việc lạm dụng hoặc áp dụng tùy tiện.3 Phân biệt thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự với thời hiệu thi hành bản án - Sự khác nhau: Thời hiệu truy cứu TNHS Thời hiệu thi hành bản án Cơ sở pháp Thời hạn do Bộ luật hình sự quy Do Bộ luật hình sự quy định lí định mà khi hết thời hạn đó thì mà khi hết thời hạn đó người người phạm tội không bị truy bị kết án, pháp nhân thương cứu trách nhiệm hình sự (Điều mại bị kết ấn không phải chấp 27 Bộ luật hình sự năm 2015).
hành bản án đã tuyên (Điều 60 Bộ luật hình sự năm 2015). Đối tượng Người đã thực hiện hành vi Án được áp dụng đối với bị áp dụng phạm tội theo quy định của Bộ người bị kết án, pháp nhân luật hình sự năm 2015. thương mại bị kết án. Thời gian Áp dụng kể từ khi tội phạm Được áp dụng kể từ khi bản áp dụng được thực hiện và trong quá án có hiệu lực thi hành.
trình tiến hành các hoạt động tố tụng * Về điều kiện: để người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và điều kiện để người, pháp nhân thương mại bị kết án không phải chấp hành bản án do hết thời hiệu thi hành bản án. lOMoARcPSD|17917457 - Sự giống nhau: 1) Là hai chế định nhỏ trong chế định lớn - thời hiệu trong luật hình sự, mang tính chất nhân đạo được ghi nhận trong Phần chung BLHS, phản ánh sự khoan hồng của nhà nước đối với chủ thể phạm tội và chủ thể bị kết án. 2) Đối tượng được hưởng trong cả hai trường hợp tương ứng hai chế định này đều là người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và tội phạm được thực hiện không nhất thiết phải là thuộc loại tội phạm nào được quy định trong PLHS. 3) Để được hưởng chế định nhân đạo này trong cả hai trường hợp tương ứng đều nhất thiết đã phải qua một thời hạn nhất định do PLHS quy định và khi có đầy đủ các căn cứ và những điều kiện được ghi nhận trong PLHS, thì Nhà nước không được phép: Truy cứu TNHS – đối với chủ thể phạm tội và thi hành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật – đối với chủ thể bị kết án.
4) Thời gian đã qua hoặc thời gian trốn tránh sẽ không được tính để hưởng chế định thời hiệu nếu trong thời hạn được quy định trong PLHS có một trong hai tình huống tương ứng xảy ra đối với: a) Chủ thể phạm tội – lại phạm tội mới mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội mới này là trên 1 năm tù hoặc cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã; b) Chủ thể bị kết án – lại phạm tội mới hoặc cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã. 5) Trong lần pháp điển hóa lần thứ ba vừa qua, các quy định về thời hiệu thi hành bản án theo BLHS năm 2015 (Điều 60) đã loại trừ thẩm quyền can thiệp của Nhà nước (Viện trưởng VKSND tối cao và Chánh án TA nhân dân tối cao) đối với những trường hợp đặc biệt khi thời hiệu thi hành bản án kết tội đối với tội phạm đã qua thời hạn 15 năm (như quy định tương ứng trước đây tại khoản 4 Điều 55 BLHS năm 1999), tạo ra sự thống nhất trong quy định giữa thời hiệu truy cứu TNHS và thời hiệu thi hành bản án kết tội. Và đây chính là một minh chứng xác đáng về xu hướng nhân đạo hóa PLHS Việt Nam trong giai đoạn xây dựng NNPQ đương đại. lOMoARcPSD|17917457 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 - Bằng việc phân tích khoa học một số vấn đề lý luận chung về thời hiệu truy cứu TNHS tại Chương I Luận văn này cho phép đi đến những kết luận + Việc ghi nhận thời hiệu truy cứu TNHS trong PLHS Việt Nam đã có từ khá sớm và kể từ pháp điển hóa lần thứ nhất cho tới nay, qua ba lần pháp điển hóa luật hình sự Việt Nam chế định thời hiệu truy cứu TNHS luôn được ghi nhận trong các BLHS.