CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các khái niệm nghiên cứu có liên quan 1.1 Khái niệm vận tải đa phương thức quốc tế là gì? Vận tải đa phương thức quốc tế (Multimodal transport) hay còn gọi là vận tải liên hợp quốc tế (Combined transport) là phương pháp vận tải hàng hóa bằng hai hay nhiều phương thức vận tải khác nhau, trên cơ sở một chứng từ vận tải, một chế độ trách nhiệm và chỉ một người chịu trách nhiệm về hàng hóa trong suốt hành trình chuyên chở từ một điểm ở nước này tới một điểm ở nước khác để giao hàng. Các hoạt động nhận và giao hàng được tiến hành theo hợp đồng vận tải đơn phương thức không được xem là hình thức vận tải đa phương thức quốc tế.2 Các hình thức vận tải đa phương thức quốc tế - Vận tải đường biển – vận tải hàng không (Sea/air): Mô hình vận tải đa phương thức quốc tế này là sự kết hợp giữa tính kinh tế của vận tải biển và sự ưu việt về tốc độ của vận tải hàng không, áp dụng trong việc chuyên chở những hàng hoá có giá trị cao như đồ điện, điện tử và những hàng hoá có tính thời vụ cao như quần áo, đồ chơi, giày dép. Hàng hoá sau khi được vận chuyển bằng đường biển tới cảng chuyển tải để chuyển tới người nhận ở sâu trong đất liền một cách nhanh chóng, nếu vận chuyển bằng phương tiện vận tải khác thì sẽ không đảm bảo được tính thời vụ hoặc làm giảm giá trị của hàng hoá, do đó vận tải hàng không là thích hợp nhất. - Vận tải ôtô – vận tải hàng không (Road – Air): Mô hình này sử dụng để phối hợp cả ưu thế của vận tải ôtô và vận tải hàng không.
Người ta sử dụng ôtô để tập trung hàng về các cảng hàng không hoặc từ các cảng hàng không chở đến nơi giao hàng ở các địa điểm khác. Hoạt động của vận tải ôtô thực hiện ở đoạn đầu và đoạn cuối của quá trình vận tải theo cách thức này có tính linh động cao, đáp ứng cho việc thu gom, tập trung hàng về đầu mối là sân bay phục vụ cho các tuyến bay đường dài xuyên qua Thái bình dương, Ðại Tây Dương hoặc liên lục địa như từ Châu Âu sang Châu Mỹ… - Vận tải đường sắt – vận tải ô tô (Rail - road): Ðây là sự kết hợp giữa tính an toàn và tốc độ của vận tải đường sắt với tính cơ động của vận tải ôtô đang được sử dụng nhiều ở châu Mỹ và Châu Âu. Theo phương pháp này người ta đóng gói hàng trong các trailer được kéo đến nhà ga bằng các xe kéo gọi là tractor. Tại ga các trailer được kéo lên các toa xe và chở đến ga đến.
Khi đến đích người ta lại sử dụng các tractor để kéo các trailer xuống và chở đến các địa điểm để giao cho người nhận. - Vận tải đường sắt-đường bộ-vận tải nội thuỷ – vận tải đường biển (Rail /Road/Inland waterway/sea): Trong các mô hình vận chuyển đa phương thức quốc tế đây là mô hình vận tải phổ biến nhất để chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu. Hàng hoá được vận chuyển bằng đường sắt, đường bộ hoặc đường nội thuỷ đến cảng biển của nước xuất khẩu sau đó được vận chuyển bằng đường biển tới cảng của nước nhập khẩu rồi từ đó vận chuyển đến người nhận ở sâu trong nội địa bằng đường bộ, đường sắt hoặc vận tải nội thuỷ. Mô hình này thích hợp với các loại hàng hóa chở bằng 7 container trên các tuyến vận chuyển mà không yêu cầu gấp rút lắm về thời gian vận chuyển.
- Mô hình cầu lục địa (Land Bridge): Mô hình cuối trong chuỗi các mô hình vận chuyển đa phương thức quốc tế là mô hình cầu lục địa. Theo mô hình này hàng hoá được vận chuyển bằng đường biển vượt qua các đại dương đến các cảng ở một lục địa nào đó cần phải chuyển qua chặng đường trên đất liền để đi tiếp bằng đường biển đến châu lục khác. Trong cách tổ chức vận tải này, chặng vận tải trên đất liền được ví như chiếc cầu nối liền hai vùng biển hay hai đại dương.3 Một số thuật ngữ dùng trong vận tải đa phương thức quốc tế - Người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO): là người ký kết và tự chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng vận tải đa phương thức. - Hợp đồng vận tải đa phương thức: là hợp đồng được ký kết giữa người gửi hàng và người kinh doanh vận tải đa phương thức, theo đó người kinh doanh vận tải đa phương thức đảm nhận thực hiện dịch vụ vận chuyển hàng hóa.
- Chứng từ vận tải đa phương thức: là văn bản do người kinh doanh vận tải đa phương thức phát hành, là bằng chứng của hợp đồng vận tải đa phương thức. - Người gửi hàng: là người ký kết hợp đồng vận tải đa phương thức với MTO - Người nhận hàng: là người được quyền nhận hàng từ MTO - Hàng: gồm các hàng hóa vận chuyển trong container, pallet hay đơn vị xếp dỡ khác. - Công ước quốc tế: là một thỏa thuận quốc tế được ký bằng văn bản giữa các quốc gia và do luật pháp quốc tế quy định.2 Thủ tục hải quan vận tải đa phương thức quốc tế đối với hàng hóa Hàng hóa vận tải đa phương thức quốc tế được miễn kiểm tra thực tế hải quan, trừ một số trường hợp nếu nghi ngờ có dấu hiệu vận chuyển ma túy, vũ khí và các loại hàng cấm khác. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Giao thông vận tải quy định thủ tục hải quan vận tải đa phương thức đối với hàng hóa.
Chuẩn bị hồ sơ bao gồm: Bản kê khai hàng hóa quá cảnh đối với hàng hóa quá cảnh giữ nguyên trạng đi thẳng, quá cảnh chuyển tải sang cùng loại phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển, đường hàng không (trừ hàng hóa quá cảnh đi thẳng bằng đường hàng không). - Tờ khai hải quan hàng hóa quá cảnh và bản kê khai hàng hóa quá cảnh đối với hàng hóa quá cảnh phải lưu kho hoặc thay đổi loại phương tiện vận tải. - 01 bản photocopy từ bản chính Giấy phép kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế do Bộ Giao thông vận tải cấp (chỉ nộp lần đầu khi làm thủ tục hải quan tại một Chi cục Hải quan) và xuất trình bản chính để công chức Hải quan kiểm tra, đối chiếu. - 01 bản chính chứng từ vận tải đa phương thức quốc tế.
8 - 01 bản chính bản khai hàng hóa vận tải đa phương thức quốc tế.3 Nguồn luật điều chỉnh vận tải đa phương thức quốc tế 1.1 Các quy ước, công ước quốc tế Việc chuyên chở hàng hóa bằng vận tải đa phương thức quốc tế cũng phải được thực hiện trên cơ sở những quy phạm pháp luật quốc tế. Quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ trong vận tải đa phương thức hiện nay bao gồm: Công ước của Liên Hợp Quốc về chuyên chở hàng hóa bằng vận tải đa phương thức (1980) - Công ước của LHQ về chuyên chở hàng hóa bằng vận tải đa phương thức quốc tế, 1980 (UN Convention on the International Multimodal Transport of Goods, 1980). Công ước này được thông qua tại hội nghị của LHQ ngày 24-5-1980 tại Geneva gồm 84 nước tham gia. Cho đến nay, công ước này vẫn chưa có hiệu lực do chưa đủ số nước cần thiết phê chuẩn, gia nhập.
- Bản quy tắc về chứng từ vận tải đa phương thức do ICC kết hợp với Ủy ban thương mại và phát triển của Liên Hợp Quốc (1992) - Quy tắc của UNCTAD và ICC về chứng từ vận tải đa phương thức (UNCTAD/ICC Rules for Multimodal Transport Documents), số phát hành 48, đã có hiệu lực từ 01- 01-1992. Bản quy tắc là một quy phạm pháp luật tuỳ ý, không có tính bắt buộc nên khi sử dụngcác bên phải dẫn chiếu vào hợp đồng. - Các văn bản pháp lý trên quy định những vấn đề cơ bản trong vận tải đa phương thức như: định nghĩa về vận tải đa phương thức, người kinh doanh vận tải đa phương thức, người chuyên chở, người gửi hàng, người nhận hàng, việc giao, nhận hàng, chứng từ vận tải đa phương thức, trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức đối với hàng hóa, trách nhiệm của người gửi hàng, khiếu nại và kiện tụng,… 1.2 Các quy định về khu vực/vùng Một số khu vực/vùng đã thiết lập cơ sở trách nhiệm riêng dựa trên Công ước Vận tải đa phương thức chưa phê chuẩn của Liên Hợp Quốc 1980 và Quy tắc UNCTAD/ ICC 1992: Hiệp định khung ASEAN về Vận tải đa phương thức (Asean Framework Agreementon Multimodal Transport - AFAMT) được ký kết tháng từ 11/2005. Trải qua 14 năm, nhưng Hiệp định mới chỉ được 7 nước thành viên ASEAN phê chuẩn và việc thực hiện được tiến hành giữa các nước này.
Hiện còn 3 nước chưa phê chuẩn là Brunei Darussalam, Malaysiavà Singapore. Việc ký kết Hiệp định này đã tạo điều kiện thuận lợi về mặt pháp lý cho việcphát triển vận tải đa phương thức trong khu vực.3 Các quy định, luật pháp của Việt Nam 9 Tại Việt Nam, hiện đã và đang có những nghị định sau quy định về Vận tải đa phương thức quốc tế - Nghị định số 125/2003/NĐ-CP: Nghị định này hiện nay đã hết hiệu lực và bị thay thế bởi Nghị định số 87/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về Vận tải đa phương thức có hiệu lực từ ngày 15/12/2009 - Nghị định số 89/2011/NĐ-CP của chính phủ ngày 10/10/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 87/2009/NĐ-CP: Sau khi ra đời, Nghị định 87 đã có một số bất cập khi đưa vào thực hiện, do đó ngày 10/10/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Điều 7 về thủ tục và giấy tờ cấp “Giấy phép kinh doanh VTĐPTquốc tế” của Nghị định số 87 trước đây. - Nghị định số 144/2018/NĐ-CP được ban hành và có hiệu lực ngày 16/10/2018 đã bãi bỏcác điều kiện về kinh doanh vận tải đa phương thức nội địa.