TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA: MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP ĐỒ ÁN TỐT NGHỆP (phần lý luận) Đề tài: TRƢỜNG MẦM NON NGÔI NHÀ SINH THÁI GVHD: BÙI MAI GIÁNG TUYẾT SVTH : NGUYỄN THỊ ĐƢỢC LỚP : 10MC3D KHÓA: 14 CHUYÊN NGHÀNH: THIẾT KẾ NỘI THẤT TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015. LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành đồ án này đã nhận đƣợc sự giúp đỡ rất rất nhiều từ cô Bùi Mai Giáng Tuyết, cô đã hƣớng dẫn rất nhiệt tình cho tôi qua từng buổi duyệt bài để tôi có thể hoàn thành thật tốt đề tài của mình, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến cô. Trong lúc làm đồ án này tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ rất nhiều từ gia đình và bạn bè, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến họ.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến toàn thể ban giám hiệu trƣờng đại học Tôn Đức Thắng cũng nhƣ các thầy cô giảng viên khoa Mỹ Thuật Công Nghiệp đã tạo mọi điều để để tôi có thể hoàn thành đồ án của mình. HỒ CHÍ MINH, tháng 7 năm 2015 Tác giả Ký và ghi rõ họ tên CÔNG TRÌNH ĐƢỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và đƣợc sự hƣớng dẫn khoa học của cô Bùi Mai Giáng Tuyết. các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chƣa đƣợc công bố dƣới bất kỳ hình thức nào trƣớc đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá đƣợc chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ phần tài liệu tham khảo.
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng nhƣ số liệu của các tác giả khác, cơ quan khác đều có trích dẫn và chú thích ghi rõ nguồn gốc. Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình. Trƣờng đại học Tôn Đức Thắng không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có). HỒ CHÍ MINH, tháng 7 năm 2015 Tác giả Ký và ghi rõ họ tên NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN.
Hồ Chí Minh, ngày…. năm 2015 Giảng viên hƣớng dẫn NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN. Hồ Chí Minh, ngày…. năm 2015 Giảng viên phản biện 1 MỤC LỤC CHƢƠNG I : GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI.
Thông tin chung về đồ án:. Lý do chọn đề tài:. Đối tƣợng, giới hạn, phạm vi nghiên cứu. phƣơng pháp nghiên cứu:.
4 CHƢƠNG II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. Tổng quan về đề tài. Khái niệm trƣờng mầm non. lịch sử hình thành và phát triển.
Tìm hiểu về giáo dục mầm non. Thực trạng trƣờng mầm non trên thế giới:. Thực trạng trƣờng mầm non ở việt nam:. Thực trạng trƣờng mầm non ở thành phố Biên Hòa.
Xu thế quốc tế về giáo dục mầm non hiện nay. Tiêu chí đánh giá trƣờng mầm non. Tâm lý trẻ qua các độ tuổi (từ 3-6 tuổi). Giới thiệu công trình:.
Giới thiệu hồ sơ kiến trúc: .2 Phân loại, phân cấp công trình, quy mô, công suất thiết kế của công trình. Phân tích đánh giá công trình. Phân tích đánh giá điều kiện bối cảnh đề tài. Điều kiện tự nhiên.2 Điều kiện con ngƣời.
28 CHƢƠNG III: NỘI DUNG THIẾT KẾ. Nhiệm vụ thiết kế. Cơ sở thiết kế. Yêu cầu về mỹ thuật.
Yêu cầu về kỹ thuật. Phƣơng pháp thiết kế :. Phƣơng án tổ chức không gian nội thất. Ý tƣởng thiết kế.
Các khu vực thiết kế:. khu lớp mầm. Khu lớp chồi. khu sân vƣờn.
54 CHƢƠNG IV: GIÁ TRỊ ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI. Đóng góp về mặt lý thuyết. Giá trị nghệ thuật của đề tài:. Giá trị công năng của đề tài.
Đóng góp về mặt thực tiễn. Khả năng thực tế của đề tài. Những đặc sắc của thiết kế mới. 57 KẾT LUẬN CHUNG – KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT.
58 TƢ LIỆU THAM KHẢO. 59 3 CHƢƠNG I : GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1. Thông tin chung về đồ án: - Tên đồ án: trƣờng mầm non “ Ngôi Nhà Sinh Thái”. - Loại đồ án: Công trình giáo dục - Địa điểm xây dựng: Đƣờng Ba Mƣơi Tháng Tƣ, Tp.
Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai. Lý do chọn đề tài: Trƣờng mầm non không còn là một khái niêm xa lạ với mọi ngƣời nữa, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa và xã hội phát triển nhƣ ngày nay. Việc cho con đến trƣờng mầm non không còn là một điều xa xỉ và chỉ dành cho những gia đình có điều kiện nữa. Hiện nay trƣờng mầm non mọc lên ở khắp nơi để đảm cho nhu cầu gửi trẻ của các bậc phụ huynh.
Vì vậy việc chọn cho con một ngôi trƣờng học đảm bảo chất lƣợng là một việc không hề đơn giản. Trƣờng mầm non là nơi cho trẻ những cái nhìn đầu tiên về cuộc đời về xã hội và về cả những mối quan hệ mới. Tại đây trẻ sẽ đƣợc học những bài học đầu đời để có thể phát triển thể chất, trí tuệ, tình cảm, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, giúp trẻ phát triển những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi. Bác Hồ từng nói: “Dạy trẻ cũng như trồng cây non.
Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các cháu thành người tốt”. Do đó với tình yêu thƣơng đối với trẻ thơ tôi quyết định chọn đề tài thiết kế nội thất trƣờng mầm non là đề tài tốt nghiệp của mình. Đối tƣợng, giới hạn, phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: xoay quanh trẻ nhỏ với độ tuổi từ 3-6 tuổi, cùng với những vật dụng cần thiết trong không gian lớp học nhƣ bàn ghế, kệ tủ, giƣờng ngủ, và các vật dụng sinh hoạt cá nhân.
Tìm hiểu về sở thích, màu sắc mà trẻ yêu thích và có thể nhận dạng đƣợc qua từng độ tuổi. Các trò chơi giúp trẻ phát triển cả tƣ duy lẫn thể chất nhƣng vẫn đảm bảo đƣợc an toàn cho trẻ. 4 Nghiên cứu về tiêu chuẩn thiết kế của trƣờng mầm non ( tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3907-1984). Khu vực thiết kế: - Lớp mầm với độ tuổi từ 3-4 tuổi.
- Lớp chồi với độ tuổi từ 4-5 tuổi. - Lớp lá với độ tuổi từ 5-6 tuổi - Sân chơi ngoài trời. Phƣơng pháp nghiên cứu: Tìm hiểu rõ sự phát triển của đối tƣợng nghiên cứu trong từng giai đoạn. Tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của đề tài theo thời gian để có một nhận định chính xác về đề tài trong từng thời kỳ, từ đó đƣa ra thiết kế phù hợp với nhu cầu xã hội và đáp ứng tính công năng của thiết kế.
Phân tích nhận định về xu hƣớng phát triển trƣờng mầm non trong khu vực và trên thế giới so với tình hình hiện tại của đất nƣớc, để học hỏi và vận dụng vào thiết kế. Tìm hiểu thêm về lịch trình giảng dạy và hoạt động sinh hoạt của trẻ ở một trƣờng mầm non tiêu biểu để đƣa ra giải pháp thiết kế không gian cho phù hợp. Tìm hiểu phân tích khả năng nhận biết màu sắc của trẻ cũng nhƣ các vật liệu phù hợp để đƣa vào thiết kế. Đƣa ra ý tƣởng vừa mang tính thực tế, gần gũi với trẻ để nghiên cứu từ đó phát triển thành không gian nội thất.
5 CHƢƠNG II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về đề tài 1. Khái niệm trƣờng mầm non trƣờng mầm non hay trƣờng mầu giáo là một hình thức dịch vụ giáo dục cho trẻ em tại một địa điểm tập trung nhất định nơi có khuôn viên nhất định, tại đây các cô giáo hay bảo mẫu sẽ dạy dỗ và chăm sóc trẻ. Lớp học của trẻ sẽ có những đồ chơi hay đồ vật dễ thƣơng để trẻ thấy thích thú và thoải mái hơn trong môi trƣờng lớp học, ngoài ra còn có những âm nhạc vui tai để kích thích các giác quan của trẻ.
Đây là nơi đầu tiên cho một trẻ tập tễnh làm quen với đời sống xã hội, môi trƣờng tập thể. Ở trƣờng mầm non trẻ đƣợc dạy để phát triển các kỹ năng cơ bản và kiến thức thông qua các trò chơi sáng tạo và tƣơng tác xã hội giữa các nhóm bạn, cũng nhƣ những bài học sơ khai đầu đời. - Độ tuổi trẻ học mầm non là từ 3-6 tuổi. trong một hệ thống trƣờng mầm non đƣợc phân ra các khối lớp: lớp mầm (3-4 tuổi), lớp chồi (4-5 tuổi) và lớp lá (5-6 6 tuổi).
với những độ tuổi khác nhau các bé đƣợc học những chƣơng trình khác nhau từ thấp đến cao. - trƣờng mầm non thƣờng đƣợc xây dựng gần khu dân cƣ với giao thông thuận tiện để việc đi lại đƣa rƣớc các bé không gặp khó khăn. lịch sử hình thành và phát triển - Nhà trẻ đầu tiên trên thế giới được xây dựng tại Đức vào năm 1837 bởi Freidrich Wilhelm Froebel (1782-1852) sinh trưởng tại Đức là con trai của một mục sư. Ông được coi là “cha đẻ” của nhà trẻ, nhà trẻ của ông đi tiên phong trong việc đề ra những lý thuyết và thực hành vẫn còn hiệu lực trong các nhà trẻ hiện nay.
Quan điểm của ông là trẻ cần vừa chơi vừa học. Nhà trẻ là nơi để trẻ lớn lên và học mối tương tác xã hội với những trẻ khác. Froebel bắt đầu mở một trường tập huấn giáo viên cho các nhà trẻ của ông. Ông tin rằng giáo viên phải là những người hội tụ đầy đủ những phẩm chất cao vì họ sẽ là tấm gương cho trẻ.
Ngoài ra, giáo viên dạy trẻ cũng phải là những người nhạy cảm, cởi mở và dễ gần. Trong trường học của Froebel, chương trình học là gồm các trò chơi, bài hát, câu chuyện và vật dụng thủ công để kích thích trí tưởng tượng và phát huy các kỹ năng thể chất và trí não của trẻ. Vật dụng trong lớp học được chia làm hai thể loại: “quà tặng” và “nghề nghiệp”. Theo đó, “quà tặng” là những vật dụng mà khi chơi trẻ sẽ biết khái niệm về vật dụng đó.
Chẳng hạn, trẻ chơi xe hơi sẽ biết những tính năng của xe hơi.Trong khi đó, “nghề nghiệp” lại tập cho trẻ tính sáng tạo tự do hơn. Chúng là những thứ mà trẻ có thể dùng để định hình và thao tác theo ý mình như đất sét, cát, dây, chuỗi hạt. Tuy nhiên, chính phủ Đức lúc bấy giờ không tán thành với quan điểm này. Họ không tin rằng trẻ cần chơi để học.