Chương 1: Giới thiệu: Giới thiệu lý do chọn đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài,… Chương 2: Tổng quan nghiên cứu đề tài: Trình bày tổng quan, sơ lược về lĩnh vực nghiên cứu, thực trạng về ngành in trong nước,… Chương 3: Cơ sở lý thuyết: Trình bày các cơ sở lý thuyết cần thiết để thực hiện đề tài. Chương 4: Thiết kế - thi công phần cứng và phần mềm: Trình bày mô hình phần cứng, thiết kế thiết bị, các mạch điều khiển. Chương 5: Thiết kế lưu đồ - thuật toán điều khiển: trình bày thuật toán và giải thuật điều khiển. Chương 6: Kết quả thực nghiệm – đánh giá: trình bày sản phẩm đã làm, đánh giá kết quả đạt được.
Chương 7: Kết luận – đề nghị: Trình bày các kết quả đã và chưa đạt được, đề nghị và đưa ra hướng phát triển cho đề tài. 2 do an CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2.1 Giới thiệu về ngành in. Trong những thông tin đại chúng hiện nay, ngoài thông tin liên lạc bằng máy tính, điện thoại, thư tín, điện tín,… thông tin báo chí cũng là phần quan trọng không thể thiếu trong xã hội.
Ngành in giúp chúng ta ghi lại những dữ liệu để lưu trữ. Ghi được dữ liệu thông tin một cách nhanh chóng và nhiều. Điều đáng nói là về số lượng và chất lượng, trang chữ, hình ảnh, màu sắc,… Báo chí hay hình ảnh được mang đến tận tay từng người với một trang chữ in như nhau và màu sắc như nhau là được gia công bởi ngành in. Sách, tập, các phần thuộc về dữ liệu lưu trữ kiến thức cơ bản đến nâng cao, những vấn đề đó vẫn được lưu lại theo phong cách cổ điển là lưu trữ trên giấy.
Vì cách này xem như một cách thông tin qua được nhiều thế hệ và rẻ nhất. Những việc như vậy đều phải đi qua giai đoạn in ấn. Điều này cho ta thấy ngành in là một ngành rất cần thiết cho xã hội, cho đời sống.2 Thực trạng về ngành in trong nước. Ngành in trong nước ta hiện còn phụ thuộc rất nhiều vào các thiết bị máy móc của nước ngoài.
Các máy móc thiết bị in ấn đa số là thiết bị ngoại nhập, nhìn chung cơ sở vật chất mang tính đa chức năng, kỹ thuật chưa có chuyên môn. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn phụ thuộc rất lớn vào các thiết bị đa phần chưa được hệ thống hóa bằng các sản phẩm cơ khí trong nước, làm cho các khoản chi phí in bị chi phối vào vốn đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư ngành in mang quy mô lớn thì hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào thiết bị ngoại nhập. Các máy móc trong nước hầu như không có độ tin cậy cao, không phù hợp để đáp ứng thời gian và cũng như giá trị ổn định về sản xuất in ấn vừa nhanh vừa đẹp như máy móc ngoại nhập.
Cho đến nay cùng với sự phát triển của ngành công nghệ kỹ thuật số, hàng loạt các máy in tiên tiến ra đời phục vụ kịp thời cho công việc in ấn, nhưng chủ yếu là các máy móc nhập từ nước ngoài, giá thành tương đối cao, do đó giá thành in ấn cao. Để góp phần tốt cho vai trò quan trọng của ngành in trong nước, chúng ta phải tập trung giải quyết một số vấn đề đặt ra trong tương lai là: Đổi mới thiết bị, cải tiến kỹ thuật, mở rộng và hiện đại hóa các thiết bị trong nước. Cải tiến các máy móc có giá trị kinh tế lớn và cải tiến các quá trình kỹ thuật in. Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kỹ thuật, đầu tư và mua công nghệ cao nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết kỹ thuật in trong nước.
3 do an Mục đích là làm giảm chi phí ngành in trong nước nói chung, cũng như mang lại giá trị lợi nhuận cho nền kinh tế nước nhà.3 Các dạng in ấn và in lụa. Trong nhiều thập kỷ qua, từ chiếc máy in đầu tiên ra đời đến nay cơ chế in vẫn không thay đổi. Đó là phải chế tạo được một bản in mẫu rồi từ bản mẫu đó được sao chép nhiều lần, ta sẽ được các bản in giống nhau. Phần thể hiện cơ bản là mực in và phần phôi gia công là giấy hoặc các nguyên liệu khác.
Từ các dạng cơ bản nhất là Mộc đến các dạng in phức tạp nhất là bằng tia Lazer. Con Mộc: là dạng in cơ bản, nhưng khâu chế bản rất tốn kém về công sức của người thợ gia công. Hiện nay người ta dùng nó ở dạng cơ bản và quy mô nhỏ, nó dùng để lưu các ký hiệu, các bút tích riêng do một người hay một công ty độc quyền về nó. In Roneo: là dạng in phỏng theo mô hình con Mộc cổ điển, nhưng các chữ in được gia công sẵn bằng kẽm và được sắp xếp theo dạng âm bản trên một tấm lưới, sau đó được cuốn tròn theo thân trụ.
Đó được gọi là bản kẽm, tấm bản này được thao mực và lăn trên giấy hoặc kính tạo ra các bản in. Phương pháp này được sử dụng thời gian khá dài (khoảng 40 năm hơn). Nó có nhược điểm là không in được các tranh ảnh có độ phân giải cao và các hình thù phức tạp như bản đồ, các đường cong vật lý,… In Offset: Đây là loại in thông dụng nhất hiện nay vì nó cho độ phân giải cao nhất hiện nay, màu sắc và chất lượng rất đẹp. Khâu chế bản in đơn giản và in được nhiều sản phẩm do dễ dàng tự động hóa.
Tuy nhiên, các máy công cụ tham gia vào việc chế bản thì rất tốn kém và bảo trì cao. Một sự hỏng hóc nhỏ trong quá trình in có thể gây nhiều tổn thất lớn liên quan kéo theo như hụt vốn đầu tư hoặc truy cập thông tin cho sách học sinh, sinh viên chậm trễ,… In lụa: Là loại in theo công nghệ thủ công, loại này rất thông dụng cho đường nét sắc sảo, độ phân giải kém hơn so với in Offset. Nhưng nói về phương pháp và công nghệ thì in lụa rẻ hơn nhiều in Offset. Khâu chế bản đơn giản và rẻ tiền, nhưng nói về tính công nghệ vẫn không bằng in Offset, khó tự động hóa trên máy móc.
Trong in lụa, bản in có thể chế tạo lại nhiều lần mà không cần thay đổi lụa, đây là điểm lợi nhất trong in lụa. Máy móc công cụ in lụa ít tốn kém hơn in Offset. Trong in lụa có loại in ru ban là loại in trên băng vải, loại này có thể tự động hóa dễ dàng vì nó có loại phôi dài. Ngoài ra in lụa có thể in trên các loại phôi cứng như thùng cactong, vỏ hộp các loại, kính xe,… So với in Offset thì không làm được.4 Giới thiệu về công nghệ in.1 Các công cụ của ngành in lụa: Khung lụa có khuôn khổ nhất định và hợp lý.
Cọ quét mực. Các loại hóa chất thích hợp như xăng, dầu, keo in (dùng để chế bản in), xà bông, dung môi và các loại dầu có hoạt tính cao, thường được gọi là dầu Ong Già là dầu rất cần thiết cho in lụa. Đèn chụp bản. Các loại mica mỏng dùng để định vị kính trong quá trình in.
Và các loại dụng cụ thủ công khác như dao, kéo,… 2.2 Công nghệ chế bản in. Trước hết là khung lụa phải sạch. Keo in được tráng lên mặt lụa và được sấy khô. Sau đó khung lụa được đặt trên phim in và cả hai được đặt trên đèn chụp bản.
Cả hệ bây giờ phải được để thật yên tĩnh và dằn vật nặng để ép lụa thật sát vào kính đèn chụp. Tùy theo tính công nghệ mà người chụp bản in sẽ có thời gian chụp thích hợp. Sau khi chụp xong khung lụa được mang đi rửa bằng nước thường. Các chữ in sẽ tan theo nước để lại là lụa trắng.
Những phần không có chữ thì keo không tan và để lại trên khung lụa bản in. Bản in sẽ được sấy khô (Có phần sửa bản). Khi chuẩn bị xong bản in, người in sẽ chuẩn bị khâu còn lại như mực và kính. Phôi được để trên bàn in đúng vị trí định vị.
Mực in được đổ vào khung in với lượng vừa và đủ. Khâu in gồm người cấp phôi liệu. 5 do an Quá trình in có các công đoạn liên tục nhất định: quét mực – mở khung lấy sản phẩm ra – đưa sản phẩm chưa in vào.3 Phân loại các hình thức in lụa Phương tiện chính của công nghệ là khuôn in. Ngoài ra còn có: bàn in, cọ quét mực, các công cụ để chế hồ và xử lý sản phẩm sau khi in.
Theo cách sử dụng khuôn in, in lụa chia ra thành các loại sau: In lụa trên bàn in thủ công. In lụa trên bàn in bán tự động. In lụa điều khiển tự động.5 Phân tích đánh giá kinh tế kỹ thuật máy in lụa tự động. Trong gia công thủ công: Để đạt được năng suất công việc gồm một công nhân, làm việc một ca, năng suất cho 43 sản phẩm trong một phút đó là đối với những người làm quen với nghề, còn đôí với những người mới vào nghề thì công việc càng lâu hơn.
Giữa in thủ công và in bằng máy thì in thủ công có lợi điểm là người in sẽ kiểm soát liên tục quá trình in, các sai sót do mòn cọ quét mực, bề mặt sản phẩm trầy sướt, bản in hỏng thì sẽ dễ dàng phát hiện và sửa kịp thời. In trên máy thì các công việc trên khó khăn hơn vì phải ngưng máy và sau khi sửa xong phải gá đặt định vị trí khung lụa. Tuy vậy in trên máy thì liên tục không có thời gian nghỉ, nếu không có sai sót và chất lượng bề mặt sản phẩm đồng đều hơn, không mất quá nhiều sức lao động, không làm người lao động bị ức chế công việc. Người đứng máy in thì không cần biết nhiều về in.
Điều này có lợi về mọi mặt kinh tế. Trong in thủ công và in trên máy các lợi điểm trước hết là giảm được nhân công lao động. Ta thử so sánh việc in thủ công và in tự động thì thấy rằng: In thủ công có năng suất thấp. In tự động có năng suất cao.
Ngoài ra trong in thủ công và in tự động việc trả lương cho công nhân cũng khác biệt giữa lương công nhân lành nghề và công nhân chưa cứng tay nghề.