CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cắt gọt kim loại với bôi trơn tưới nguội 1. Nguyên lý cắt gọt và sự hình thành các loại phoi Gia công kim loại bằng cắt gọt là một phương pháp gia công kim loại rất phổ biến trong ngành cơ khí chế tạo máy. Quá trình cắt gọt kim loại là quá trình người công nhân sử dụng dụng cụ cắt để hớt bỏ lớp kim loại thừa khỏi phôi, nhằm đạt được những yêu cầu cho trước về hình dáng, kích thước, vị trí tương quan giữa các bề mặt của chi tiết gia công.
Lớp kim loại thừa trên chi tiết cần hớt bỏ đi gọi là lượng dư gia công cơ. Lớp kim loại được cắt bỏ khỏi chi tiết được gọi là phoi cắt. Để tạo phoi khi gia công cần một lực tác dụng vào dao phải đủ lớn để tạo ra trong lớp kim loại một ứng suất lớn hơn sức bền của vật liệu bị gia công. Ban đầu do tác dụng của lực P dao bắt đầu nén vật liệu gia công theo mặt trước của dụng cụ cắt.
Lực P này yêu cầu phải đủ lớn để tạo ra trong vật liệu gia công một ứng suất lớn hơn sức bền của nó, tức là lớn hơn khả năng liên kết của các tinh thể kim loại, đồng thời phải thắng được lực cản do ma sát trong quá trình gia công (ma sát giữa các tinh thể trượt lên nhau, ma sát giữa phoi và dao, ma sát giữa dao và vật liệu gia công). Khi dao tiếp tục chuyển động tương đối trong vật liệu gia công phát sinh biến dạng đàn hồi, biến dạng này nhanh chóng chuyển sang biến dạng dẻo và một lớp phoi có chiều dày tp được hình thành từ lớp kim loại bị cắt có chiều dày t, di chuyển dọc theo mặt trước của dao (Hình 1. Để hình thành được phoi trước đó lớp kim loại bị cắt đã trải qua một quá trình biến dạng nhất định, nghĩa là giữa lớp kim loại bị cắt và phoi luôn có một khu vực biến dạng. Khu vực này có thể gọi là miền tạo phoi.
Miền tạo phoi được giới hạn bởi miền AOE trong đó: đường OA là đường phát sinh những biến dạng dẻo đầu tiên, đường OE là đường kết thúc những biến dạng dẻo, đường AE nối liền khu vực chưa biến dạng của kim loại và phoi. Miền tạo phoi AOE sẽ di chuyển cùng dao trong quá trình cắt. Miền này được sơ đồ hóa như hình 1. Trên miền này có những mặt trượt OA, OB, OC, OD, OE khi hình thành phoi vật liệu gia công trượt trên những mặt đó.
4 Luan van Hình 1.1- Sơ đồ tạo phoi khi gia công [6] Phoi cắt có bốn kiểu cơ bản, đặc trưng cho phương pháp công nghệ và chất lượng bề mặt chi tiết gia công, cụ thể như hình 1.2 - Các dạng phôi khi gia công cắt gọt [9] - Phoi không liên tục: Được hình thành khi gia công các vật liệu dòn, kể cả vật liệu dẻo với chiều sâu cắt lớn, tốc độ cắt và góc cắt nhỏ (hình 1. Quá trình hình thành phoi không liên tục sẽ tạo ra bề mặt nhám trên chi tiết gia công. - Phoi dây (phoi liên tục): Được hình thành khi gia công vật liệu dẻo với chiều sâu cắt nhỏ, tốc độ cắt và góc cắt lớn (hình 1. Đặt điểm công nghệ của quá trình hình thành phoi liên tục cho chi tiết có độ bóng bề mặt gia công tốt.
Để có chất lượng bề mặt chi tiết tốt, độ chính xác gia công cao, chúng ta sử dụng các điều kiện sau đây để tạo ra kiểu phoi liên tục: Vật liệu gia công dẻo. Chiều dày phoi nhỏ (lượng cắt nhỏ). 5 Luan van Góc cắt sắc. Tốc độ cắt cao.
Dụng cụ cắt và chi tiết được giữ đủ nguội bằng dung dịch làm nguội. Góc thoát phoi lớn trên dụng cụ cắt. Trở lực thoát phoi tối thiểu do (độ bóng cao trên mặt dụng cụ cắt, sử dụng dung dịch cắt để tránh sự hình thành biên tích tụ, dụng cụ cắt bằng vật liệu siêu cứng CBN, PCBN, PCD, …). - Phoi xếp lớp (phoi liên tục có biên tích tụ hình 1.2c): Được hình thành khi gia công thép kết cấu, các vật liệu dẻo khác, khi cắt gọt ở tốc độ cắt từ thấp đến trung bình, chiều sâu cắt lớn, góc cắt nhỏ với dụng cụ cắt bằng thép gió và thường không sử dụng dung dịch làm mát.
Trường hợp này, khi gia công cho ra chi tiết có bề mặt gia công thô nhám, là nguyên nhân gây ra nhám bề mặt chi tiết gia công và làm giảm tuổi bền dụng cụ cắt. - Phoi răng cưa (hình 1.2d): Phoi răng cưa được tạo thành khi gia công các loại thép có độ cứng vừa phải, gia công vật liệu nhôm và các hợp kim của nhôm với tốc độ cắt trung bình. Loại phoi này có dạng sợi mặt dưới nhẵn và mặt trên có răng cưa. Quá trình hình thành phoi khi tiện thường Qua nghiên cứu quá trình tiện nói chung thì thực tế phoi được tách ra khỏi chi tiết khi cắt không theo phương của vận tốc 𝑣⃗ (tức là phương lực tác dụng).
Phoi khi cắt ra khi bị uốn cong về phía mặt tự do, kích thước của phoi bị thay đổi so với lớp cắt khi còn trên chi tiết (hình 1. 6 Luan van Hình 1.3 - Quá trình hình thành phoi khi tiện thường [7] Khi dao dịch chuyển các phần tử kim loại lúc đầu bị nén đàn hồi (hình 1.4 a), sau đó bị biến dạng dẻo, quá trình biến dạng dẻo tăng dần cho đến khi bị lực liên kết bên trong của các phân tử chặn lại. Ở thời điểm này xảy ra sự sắp xếp lớp của các phần tử phoi và sự trượt của chúng trên bề mặt BC (hình 1.4 b), hiện tượng tương tự cũng xảy ra đối với các phần tử tiếp theo từ 1 - 5 (hình 1.4 – Sơ đồ quá trình hình thành phoi [2] 7 Luan van Biến dạng dẻo xảy ra trong vùng được giới hạn bằng góc , góc này được gọi là góc tác động. Góc i gọi là góc trượt, còn mặt phẳng BC gọi là mặt trượt.
Quá trình hình thành phoi trên đây xảy ra khi gia công các vật liệu dẻo với chiều sâu cắt lớn và góc cắt nhỏ. Quá trình hình thành phoi khi tiện cứng Đối với quá trình hình thành phoi khi tiện cứng cũng xảy ra cũng giống khi tiện thường, tuy nhiên đối với tiện cứng do chiều sâu cắt nhỏ, tốc độ cắt lớn nên phoi hình thành trong quá trình tiện cứng là phoi dây. Biến dạng cắt khi tạo phoi dây là bé nhất. Vì vậy trong những trường hợp gia công tinh ta cần cố gắng tạo phoi dây bằng cách nâng cao tốc độ cắt.
Khi tạo phoi dây, do phoi được hình thành một cách liên tục, do đó lực cắt khá ổn định, ít rung động. Nhờ vậy dễ đạt được độ bóng cao.5 - Quá trình hình thành phoi khi tiện cứng [7] 1. Chế độ cắt [3] Chất lượng bề mặt chi tiết sau khi gia công trên máy tiện CNC phụ thuộc rất nhiều yếu tố. Trong đó, ảnh hưởng của chế độ cắt là rất lớn.
Các nghiên cứu cho thấy sự ảnh hưởng độc lập của vận tốc cắt V và bước tiến dao s đến độ nhấp nho tế vi Ra là đáng kể, còn ảnh hưởng của chiều sâu cắt t đến độ nhấp nhô tế vi ra không nhiều. Từ các thực nghiệm, nhiều tác giả cũng chỉ ra rằng về mặt toán học, mối liên hệ giữa chế độ cắt (biến số) với nhám bề mặt Ra (hàm số) tuân theo quy luật hàm số mũ. Đó là: Ra = Ci.tc 8 Luan van Trong đó: Ci là hằng số, a,b,c là các số mũ tính đến ảnh hưởng của chế độ cắt đến nhám về mặt. các hằng số và số mũ này được xác định bằng thực nghiệm trong điều kiện nhất định.
Lực cắt khi tiện và các yếu tố ảnh hưởng Trong quá trình cắt kim loại, để tách được phoi và thắng được ma sát cần phải có lực. Lực sinh ra trong quá trình cắt là động lực cần thiết cần thực hiện quá trình biến dạng và ma sát. Việc nghiên cứu lực cắt trong quá trình cắt kim loại có ý nghĩa cả lý thuyết lẫn thực tiễn. Trong thực tế, những hiểu biết về lực cắt rất quan trọng để thiết kế dụng cụ cắt, đồ gá, tính toán thiết kế máy móc thiết bị,… Dưới tác dụng của lực và nhiệt, dụng cụ sẽ bị mòn, bị phá hủy.
a) Các yếu tố ảnh hưởng đến lực cắt khi tiện * Ảnh hưởng của chi tiết gia công đến lực cắt Bản chất biến dạng và ma sát của quá trình cắt kim loại cho ta thấy rằng: Chi tiết gia công có ảnh hưởng lớn đến quá trình cắt, đặc biệt đến lực cắt. Thực nghiệm ghi nhận chi tiết gia công ảnh hưởng đến lực cắt bởi các yếu tố sau: - Độ bền, độ cứng của vật liệu. - Thành phần hóa học. - Cấu trúc kim loại của vật liệu.
- Phương pháp chế tạo phôi… Thực tế, nếu tiến hành khảo sát ảnh hưởng của từng yếu tố trên đến lực cắt thì rất phức tạp và khó khăn, do vậy, trong các công thức thực nghiệm tính toán lực cắt, người ta biểu thị mức độ ảnh hưởng của vật liệu cụ thể đến lực cắt trong điều kiện cắt gọt, xác định bằng độ lớn lực cần thiết để tách 1mm2 diện tích tiết diện phoi cắt khỏi chi tiết gia công. Theo phân tích trên đây chính là lực cắt đơn vị P. Tuy vậy, đối với một loại vật liệu thì P còn phụ thuộc vào chiều dày cắt a. Vì vậy để phân biệt qua khảo sát trong công thức kinh nghiệm: Lực cắt đơn vị P được định nghĩa là lực cần thiết để tách một lớp phoi tiết diện 1mm2 có chiều dày trung bình atb = 1mm và chiều rộng b = 1mm trong điều kiện dao động tiêu chuẩn.
* Ảnh hưởng của điều kiện cắt đến lực cắt Điều kiện cắt gọt bao nhiều gồm yếu tố như chế độ cắt v, s, t, độ cứng vững của hệ thống công nghệ, ảnh hưởng của tưới dung dịch trơn nguội vào vùng cắt,… Ở luận 9 Luan van văn này, tác giả chỉ khảo sát ảnh hưởng của chế độ cắt đến lực cắt, khảo sát ảnh hưởng của các thông số v, s, t đến lực cắt. Sử dụng nguyên lý cộng tác dụng, khi nghiên cứu ảnh hưởng của một thông số nào đó, trong thí nghiệm ta cho tất cả các yếu tố khác không thay đổi và chỉ cho yếu tố đang xét thay đổi, sau đó tổng hợp lại ta nhận được ảnh hưởng đồng thời của các yếu tố xét đến lực cắt.