CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI 11 Lý thuyết dạy học trực tuyến 1.1 Khai niệm dạy học trực tuyến Trước khi internet được phát hiện, dạy học trực tuyến được hiểu là hình thức đào tạo từ xa và các khóa học đã được cung cấp cho sinh viên với mục đích học tập về một lĩnh vực, kỹ năng hoặc chủ dé cụ thẻ. Vào đầu thế kỷ 18, Isaac Pitman mặc dù học trò của ông viết tắt qua thư từ. Cách tiếp cận này đã được đưa ra để cải thiện tốc độ viết và đây là một cách tiếp cận thành công, phô biến như nhau giữa sinh viên, thư ký, nhà báo, giáo viên và các cá nhân khác.
Isaac là một giáo viên tuyệt vời, học sinh đã gửi bài tập đã hoàn thành qua hệ thống thư và cách tiếp cận này bắt đầu từ đó bằng cách gửi cho họ nhiều công việc cần hoàn thành hơn. [1] Vào năm 1924, giáo sư Sidney Pressey của Đại học bang Ohio đã phát minh ra “Giáo viên tự động”, thiết bị đầu tiên trong học tập điện tử. “Giáo viên Tự động” được thiết kế để cho phép học sinh kiểm tra va tự kiểm tra. Tuy nhiên, lần thử đầu tiên này không thành công.
Năm 1954, giáo sư Harvard BF Skinner tạo ra “Máy dạy học” để sử dụng trong trường học. Máy dạy học là một thiết bị cơ khí có mục đích quản lý chương trình giảng dạy được lập trình sẵn. Những năm 1960, chương trình đào tạo dựa trên máy tinh đầu tiên mới được giới thiệu trên thế giới. Chương trình đào tạo dựa trên máy tính (CBT — Computer-Based Traning) được lập trình cho các hoạt động giảng dạy tự động hay PLATO — một hệ điều hành được phát triển bởi Dai hoc Illinois tai Urbana-Champaign.
Nhiing nam 70, E-Learning tro nên nỗi trội hơn, Đại học Mở (Open University) tai Anh tan dung loi thé của việc học trực tuyến, hệ thống giáo dục luôn tập trung chủ yếu vào việc học từ xa. Một vi dụ nữa đó là tại bang Saskatchewan, Canada, máy tính được sử dụng tại các trường tiểu học ở thanh phé Saskatoon. [1] Vào những năm 1980, chiếc máy MAC được giới thiệu, điều này đã cho phép người dùng có thê sở hữu một chiếc máy tính trong nhà của họ. Máy tính đã giúp họ dễ dàng trong việc học một số môn học & phát triển các kỹ năng nhất định.
Trong thập kỷ 90 mọi người bắt đầu học tập ảo và những môi trường này bắt đầu phô biến trên toàn cầu thông qua loại hình học tập này, mọi người truy cập một 1 lượng lớn thông tin và các cơ hội DHTT theo cách đơn giản nhất. Vào năm 2000, DHTT đã được đưa vào các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp bắt đầu sử dụng SCORM (Shareble Content Object Reference Model) là tiêu chuẩn soạn thảo phổ biến sử dụng trong DHTT với tiêu chuẩn để đào tạo nhân viên. Đó là một kỹ thuật tốt để cải thiện kết quả bằng cách cung cấp đào tạo cho nhân viên mới cũng như nhân viên cũ.
Bởi vì điều này, nhân viên có thể cải thiện kỹ năng của họ, tỷ lệ thuận với sự thành công của người sử dụng lao động. Tới năm 2005 các môi trường học tập trực tuyến bắt đầu phát triển dựa trên các nền tảng công nghệ khác nhau, ở thời điểm đó chia làm hai nhóm chính là: công nghệ mở và công nghệ đóng. Công nghệ mở thường được gọi là Web 2.0 hoặc phương tiện truyền thông xã hội, các công nghệ truy cập mở thường được thiết kế cho các chức năng hoặc nhiệm vụ cụ thé. Chúng có thể được thiết lập hoặc sử dụng bởi bất cứ ai, thường miễn phí hoặc có thê được sử dụng miễn phí trong một dung lượng hạn chế, với tùy chọn trả phí cung cấp nhiều tính năng hơn hoặc không gian lưu trữ trực tuyến.
Ví đụ một số công nghệ mở rất nhiều nhưng không giới hạn các ứng dụng nhu: facebook. Céng nghé déng- Hé théng quan li hoc tap (Learning Management System- LMS) 1a mot hệ thống khép kín, tập trung được bảo mật theo phương thức xác thực và chỉ có thể được truy cập bởi người dùng của một tổ chức. Chúng phục vụ cho cả nhu cầu giáo dục và hành chính, thông thường hệ thống này bao gồm một loạt các công nghệ tích hợp như diễn đàn thảo luận, blog, wiki và gửi bài tập. Chúng có thể kết hợp các công cụ chấm điểm và quản trị, thậm chí có thể bao gồm một số hệ thông mở mà tổ chức quyết định sử dung vi du nhu Blackboard.com Từ năm 2010 cho đến nay rất nhiều khái niệm mới ra đời góp phần nâng cấp, hoàn thiện chất lượng các bài học trực tuyến phải kể đến như hồ sơ học tập điện tử (LRS- Learning Record Store) chuyên quản lí dữ liệu về trải nghiệm học tập, mặc dủ nó được tích hợp với một LMS, nhưng LRS có thể coi là một sản phẩm riêng biệt.
Ngoài ra API Tin Can đã nỗi lên như một tiêu chuẩn mới cho việc đảo †ạo trực tuyến, nó được mô tả là sự phát triển tiếp của SCROM của những năm 2000 vì nó có khả năng theo dõi hầu hết các hoạt động học trực tuyến và lưu trữ lại trên hệ thống tốt hơn. Nó mang đến cái nhìn chỉ tiết hơn về sự tiến bộ của người học, trong và ngoài các môi trường học tập truyền thống, trực tuyến và ngoại tuyến. Các loại học tập mà có thể theo dõi gần như vô hạn, bao gồm: đọc một trang web, tham dự một sự kiện, mượn sách thư viên số, chơi trò chơi, học tập theo nhóm,. Kèm theo đó trong xã hội hiện đại, hướng tới nâng cấp chất lượng trải nghiệm cho người học với các khóa học trực tuyến, các doanh nghiệp giáo dục đang có xu hướng chuyên đổi sang môi trường học tập ảo (Virtual Learning Environments — VLE).
Dựa vào khái quát lịch sử phát triển của day học trực tuyến, ta có thể định nghĩa rằng dạy học trực tuyến (E- learning) là môi trường học tập nền tảng trên internet cho phép người dạy và người học tương tác tự do trên các trang web và hệ thống quản trị học tập trực tuyến của don vi dao tao.[1] Nam 2006, Héi déng nghién ctu E-learning Hoa Ky (Sloan Consortium) da đưa ra một phân loại các lớp học như sau: Bảng 1.1 Bảng phân loại các loại lớp học Phần trăm nội Nhóm dung được Phân loại lớp Mô tả truyền tải qua học Internet. Lớp học Không có nội dung được truyện tải A 0% XÃ LA băng công nghệ Internet. Tât cả là truyền thông :Á trực tiệp. Sử dụng công nghệ Internet để B 1-29% Sử dụng công | đăng tải các học liệu như đê cương, ° nghệ Internet | bài tập, bài giảng.
Sinh viên va thay gặp gỡ trực tiệp (mặt giáp mặt) Kết hợp Kết hợp giữa công nghệ Internet và (Blended/ truyền thông. Sinh viên và thây có Cc 30-79% : những gặp gỡ, trao đôi trực tiép Hybrid) - ee chờ 4. trên Internet và có cả những buôi gặp trực tiệp. Trực tuyến _ | Tất cả nội dung tren Internet, không D 80+% (Online) có gặp mặt trực tiệp.
Theo tài liệu [2] nghiên cứu về GDTT tại Hoa Kì thống nhất cách hiểu về DHTT dua vào tỉ lệ phần trăm nội dung giảng dạy trực tuyến. Cụ thể, các khóa học trực tuyến là những khóa học trong đó ít nhất 80% nội dung khóa học được giảng dạy trực tuyến. Quan niệm này đồng nhất với quan niệm về DHTT được nêu trong trang web của Cục Quản lí Kĩ năng Úc thuộc Chính phủ Úc. Còn những khóa học 3 có nội dung DHTT nằm trong khoảng từ 30% đến 79% được gọi là học tập kết hợp (Blended learning).
Có nhiều khái niệm liên quan và trong nhiều bối cảnh có nghĩa tương đồng với DHTTT như đào tạo trực tuyến, giáo dục trực tuyến (GDTT), học tập điện tử,. Theo báo cáo của Trung tâm Công nghệ giáo dục - Bộ giáo dục Hoa Kì: Học trực tuyến được quan niệm là học điễn ra một phần hoặc toàn bộ khóa học thông qua Internet. Quan niệm này loại trừ giáo dục thông qua chương trình phát sóng truyền hình hoặc đài phát thanh, hội nghị truyền hình, video truyền hình và phần mềm giáo dục độc lập hoặc các chương trình không có thành phần giảng dạy dựa trên Internet. Tài liệu [3] Hướng dẫn lập kế hoạch cho học tập kết hợp và trực tuyến của trường học ảo Michigan quan niệm: Học trực tuyến là hình thức học tập với sự hướng dẫn của người dạy chủ yếu thông qua internet, bao gồm các phần mềm đề cung cấp môi trường học tập có cấu trúc và ở đó, người học và người dạy tách biệt nhau về mặt địa lí.
Quan niệm này thể hiện một cách hiểu tương đối toàn diện về DHTT, thé hiện vai trò của người dạy, người học, intcrnct, phần mềm và phải nằm trong môi trường học tập có cấu trúc, người đạy và người học có thể tương tác đồng bộ hoặc không đồng bộ. Có thể nói rằng, quan niệm về DHTT được rất nhiều tác giả đề cập, tuy nhiên, nhiều quan điểm thống nhất về cách hiểu DHTT là: Dạy và học dựa trên nền tảng công nghệ; Chủ yếu thông qua internet; Quá trình dạy học có cấu trúc (mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện). Tương tác giữa người dạy- người học, người học - người học có thể là đồng bộ hoặc không đồng bộ, có thể gặp mặt trực tiếp hoặc từ xa. Theo quan niệm của Bộ Giáo dục & Đào tạo Việt Nam về DHTT được trình bảy trong Dự thảo Thông tư ban hành về Quản lí tổ chức DHTT đối với các cơ sở giáo dục phố thông: “DHTT được hiểu là hoạt động dạy học thông qua phần mềm ứng dụng trên môi trường internet, đảm bảo người dạy và người học tương tác đồng thời hoặc không đồng thời trong quá trình dạy học”.
Từ quan niệm của các tác giả trên thế giới cũng như quan niệm của Bộ GD&DT Việt Nam, trong đề tài này, tác giả quan niệm: “DHTT là hình thức dạy học từ xa chủ yếu thông qua internet trong đó sự tương tác giữa người dạy với người học cũng như giữa cộng đồng học tập một cách thuận lợi thông qua công nghệ thông tin”. Như vậy, DHTT không loại trừ dạy học trực tiếp mà các hoạt động gặp mặt và tương tác trực tiếp giữa người đạy và người học vẫn có thể diễn ra cả ở trong và ngoài không gian lớp học truyền thống.2 Đặc trưng của đạy học trực tuyến Về bản chất, có thể coi DHTT cũng là một hình thức dạy học từ xa. Vì vậy nó có những đặc điểm khác biệt chung của dạy học từ xa so với dạy học truyền thống.