Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Giáo dục môi trường 1. Khái niệm môi trường Theo cuốn Môi trường và con người của Mai Đình Yên định nghĩa môi trường như sau: “Môi trường là một khái niệm gắn liền với sự sống, bao gồm những thực thể và hiện tượng của tự nhiên, bảo đảm cho sự phát sinh và phát triển của sự sống. Nói cách khác, môi trường là toàn bộ các điều kiện tự nhiên tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của sinh vật” [20].
Theo Điều 1, Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam, năm 1993 đưa ra định nghĩa về môi trường như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên [16]. Theo Lê Văn Khoa (1995): “Môi trường theo nghĩa rộng nhất là tập hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện. Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường”. Khái niệm chung về môi trường như vậy được cụ thể hoá đối với từng đối tượng và từng mục đích nghiên cứu [12].
Đối với cơ thể sống thì “Môi trường sống” là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể. Theo Vũ Trung Tạng (2000): “Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên,… mà ở đó, cá thể, quần thể, loài,… có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích ghi của mình” [17]. Theo cuốn giáo trình về Môi trường và con người của Nguyễn Xuân Cự, Nguyễn Thị Phương Loan đã định nghĩa về môi trường như sau: 10 “Môi trường của một vật thể, sự kiện, sinh vật là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới vật thể, sự kiện, sinh vật đó. Môi trường tự nhiên là một hệ thống thống nhất, ổn định, cân bằng động, tồn tại và vận động tuân theo những quy luật tự nhiên nhất định.
Các đặc trưng cơ bản của hệ thống chỉ được duy trì và thể hiện khi hệ thống được bảo toàn nguyên trạng và ổn định. Môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là cả vũ trụ bao la, bao gồm tổng hợp các điều kiện tự nhiên (tài nguyên và môi trường), nhân tạo (công cụ, phương tiện,…), xã hội (tổ chức, thể chế, luật lệ,…) bao quanh và có ảnh hưởng tới con người nói riêng và sự phát triển của xã hội loài người nói chung” [4]. Thông qua các khái niệm trên chúng ta có thể nhận thấy môi trường sống của con người rất đa dạng và phức tạp, bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo. Nhưng chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau.
Đặc biệt là sau Hội nghị thượng đỉnh Trái Đất Rio năm 1992 thì vấn dề môi trường được nhấn mạnh tới việc giải quyết các mâu tuần giữa sự phát triển kinh tế xã hội và nhận thức của mỗi con người về BVMT trong cuộc sống hàng ngày. Như vậy, chúng ta có thể hiểu môi trường là tất cả các yếu tố tự nhiên, các dạng vật chất bao quanh chúng ta và những dạng vật chất do con người tạo ra, có ảnh hưởng và tác động tới quá trình lao động, sản xuất, sinh sống và phát triển của con người, sinh vật hiện tại trong tương lai. Khái niệm bảo vệ môi trường Khái niệm BVMT được Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam (1993) ghi rõ: “BVMT là những hoạt động giữ gìn cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục những hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên” [16]. Theo Luận án Tiến sĩ của Võ Trung Minh thì: “BVMT là ý muốn chung hướng tới việc sử dụng hợp lí có cải tạo và phục hồi các nguồn tài nguyên trong thiên nhiên, bảo vệ tính đa dạng sinh học, sự cân bằng sinh thái, phòng chống sự suy thoái và ô nhiễm môi trường” [13].
11 Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI khẳng định: “BVMT là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và của mọi công dân. Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và BVMT sinh thái. Phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo và ứng phó với sự biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên.
Tăng cường quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia” [7]. Như vậy, BVMT là không làm thay đổi tới sự phát triển của nền kinh tế - xã hội mà đảm bảo cho kinh tế - xã hội không ngừng phát triển, bên cạnh sự phát triển kinh tế phải đi đôi với BVMT. BVMT chính là bảo vệ cuộc sống của mỗi chúng ta khỏi những tác hại xấu từ môi trường đem lại bầu không khí, chất lượng cuộc sống tốt nhất. Khái niệm giáo dục môi trường Bên cạnh sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế - xã hội cả về tốc độ lẫn quy mô thì vấn đề môi trường và BVMT ngày càng trở nên cần thiết với tất cả nhân loại.
Nó là một vấn đề thời sự được quan tâm hơn bao giờ hết. Từ đó, có nhiều phương hướng đưa ra để gìn giữ môi trường ngày càng bền vững, như vậy một thuật ngữ “giáo dục môi trường” đã được nhắc tới ngày càng nhiều trong những thập niên gần đây. Để hiểu hơn về GDMT chúng tôi đã tìm hiểu về khái niệm môi trường như sau: - Trong Luật Giáo dục môi trường của Mỹ (1970), GDMT được định nghĩa như sau: “GDMT là quá trình giúp cho người học hiểu được mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bao quanh, nhận thức được các vấn đề dân số, ô nhiễm, bảo toàn thiên nhiên, kĩ thuật, phát triển đô thị và nông thôn,… có ảnh hưởng đến môi trường con người như thế nào” [6]. - Tại hội thảo “GDMT trong chương trình của trường học” của IUCN (Hiệp hội Quốc tế về Tự nhiên và Tài nguyên thiên nhiên) năm 1970, GDMT được định nghĩa như sau: “GDMT là một quá trình hình thành những nhận thức, hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên 12 và xã hội bao quanh con người.
Hơn nữa, GDMT cũng đòi hỏi hình thành ở người học khả năng quyết định và những hành động liên quan tới chất lượng môi trường” [6]. Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu rằng GDMT là một quá trình giúp con người hiểu được sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong môi trường với con người, từ đó con người có hiểu biết, nhận thức được tầm quan trọng của môi trường để đưa ra những hành động, việc làm tích cực BVMT. Dạy học tích hợp giáo dục môi trường 1. Tích hợp Theo cuốn Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học các môn học về Tự nhiên và xã hội của Nguyễn Thị Thấn thì “tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm quen thuộc, các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó” [18].
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích hợp là sự thống nhất, sự hài hòa, sự kết hợp” [22]. Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy” [22]. Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “intergration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể”.
Có nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy [22]. Như vậy, tích hợp là sự kết hợp các nguồn kiến thức bên ngoài, có liên quan với các kiến thức đã có trong bài học, đảm bảo liên kết với nhau về hình thức, mặt ý nghĩa nhằm tạo nên một nội dung có đầy đủ các yếu tố cần nói đến với đối tượng đang nói và giữa chúng phải luôn có sự thống nhất, hài hòa với nhau. Tích hợp giáo dục môi trường Theo cuốn Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học các môn học về Tự nhiên và xã hội của Nguyễn Thị Thấn tích hợp GDMT được định nghĩa như sau: “Tích hợp GDMT là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức GDMT và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong bài” [18]. Mục tiêu tích hợp GDMT: - Kiến thức: Cung cấp cho học sinh những hiểu biết về môi trường sống gắn bó với các em, môi trường sống của con người.
Hình thành các khái niệm ban đầu về môi trường, môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo; sự ô nhiễm môi trường, BVMT. Biết một số tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, quan hệ khai thác, sử dụng và môi trường. Biết mối quan hệ giữa các loài trên chuỗi thức ăn tự nhiên. Những tác động của con người làm biến đổi môi trường cũng như sự cần thiết phải khai thác, BVMT để phát triển bền vững.
- Kỹ năng, hành vi: Hình thành cho học sinh những kỹ năng ứng xử, thái độ tôn trọng và BVMT một cách thiết thực, rèn luyện năng lực nhận biết những vấn đề môi trường,… Tham gia một số hoạt động BVMT phù hợp với lứa tuổi; thuyết phục người thân, bạn bè có ý thức và hành vi BVMT. - Thái độ, tình cảm: Yêu quý thiên nhiên, mong muốn BVMT, sống cho cây cối, con vật và con người. Các mức độ tích hợp GDMT: - Mức độ toàn phần: mục tiêu và nội dung của bài trùng hợp phần lớn hay hoàn toàn với nội dung giáo dục BVMT. 14 - Mức độ bộ phận: chỉ có một phần bài học có nội dung GDMT được thực hiện bằng mục riêng, một đoạn hay một vài câu trong bài học.