CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Cơ sở lí luận văn học và lịch sử văn học 1. Khái niệm, đặc trưng của thơ a. Khái niệm thơ: Cách đây khoảng 1500 năm, trong cuốn Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp đã đề cập đến ba phương diện cơ bản cấu thành nên một bài thơ là tình cảm, ý nghĩa (tình văn), ngôn ngữ (hình văn) và âm thanh (thanh văn).
Đến đời Đường, Bạch Cư Dị đã nêu lên các yếu tố then chốt tạo thành điều kiện tồn tại của thơ: "Cái cảm hoá được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa. Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa". Quan niệm này không chỉ dừng lại ở việc nêu lên các yếu tố cấu thành tác phẩm mà còn chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa chúng, giống như gốc rễ, mầm lá, hoa, quả gắn liền với nhau trong một thể thống nhất hoàn chỉnh và sống động. Đây có thể coi là quan niệm về thơ toàn diện và sâu sắc nhất trong nền lý luận văn học cổ điển Trung Hoa.
Các nhà Cấu trúc chủ nghĩa Châu Âu lại thay thế câu hỏi "thơ là gì?" bằng một câu hỏi khác: tính thơ là gì? và nó được thể hiện ra như thế nào? Trong tiểu luận Thơ là gì ?, Jacobson viết: "Nhưng tính thơ được biểu hiện ra như thế nào? Theo cái cách từ ngữ được cảm nhận như là từ ngữ chứ không phải như vật thay thế đơn giản của đối tượng được chỉ định, theo cách những từ, những cú pháp, những ngữ nghĩa của chúng, hình thức bên trong và bên ngoài của chúng không phải là các dấu hiệu vô hồn của hiện thực mà còn có trọng lượng riêng, giá trị riêng". Tiếp tục triển khai lý thuyết tự qui chiếu, Jacobson sau khi nhắc lại hai kiểu sắp xếp cơ bản của hoạt động ngôn ngữ là tuyển chọn và kết hợp, đã đi đến kết luận: "Chức năng thi ca đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp". Mặc dù có lưu ý ít 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiều đến hoạt động nguyên lý tương đương về ý nghĩa nhưng trong tư duy nghiên cứu của Jacobson, cái ý nghĩa ở đây chỉ là ý nghĩa của đối tượng gọi tên và ý nghĩa ngữ pháp nảy sinh từ những mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc có tính chất khép kín của văn bản. Điều đó cũng có nghĩa là khái niệm ý nghĩa được hiểu một cách hạn hẹp.
Bởi trong thực tế, như ta thấy, ý nghĩa của thơ nhiều khi đã vượt ra ngoài giới hạn của văn bản. Ở Việt Nam, cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến với nhiều quan niệm, nhiều khuynh hướng khác nhau. Lý giải về bản chất của thơ, các tác giả nhóm Xuân thu nhã tập cho rằng: "Thơ là một cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thuý, cao siêu". Còn nhà thơ Tố Hữu thì quan niệm: "Thơ là cái nhụy của cuộc sống".
Dưới cái nhìn cấu trúc, nhà nghiên cứu Phan Ngọc định nghĩa: "Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và suy nghĩ do chính hình thức ngôn ngữ này". Định nghĩa này của giáo sư Phan Ngọc đã kế thừa được những khám phá quan trọng về thơ của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các trường phái khác nhau của Tây Âu trong mấy chục năm qua. Đặc biệt, đã gợi ra một trường nghiên cứu thơ hết sức rộng rãi: thơ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ học thuần tuý mà chủ yếu là hiện tượng giao tiếp nghệ thuật, một phát ngôn trong ý nghĩa đầy đủ của từ này. Lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học đã được chứng kiến rất nhiều định nghĩa về thơ.
Theo tôi, cách định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học có thể xem là chung nhất: "Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu". Định nghĩa này đã định danh một cách đầy đủ về thơ ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật. Đặc biệt, các tác giả đã khu biệt được đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ trong những thể loại văn học khác. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đặc trưng của thơ Có nhiều cách diễn giải đặc trưng của thơ. Chúng tôi thấy cách trình bày dưới đây có nhiều ý nghĩa phong phú và sâu sắc: b. Về nội dung cảm xúc: Thơ ca có sự tưởng tượng phong phú và cảm thụ mãnh liệt Đặc tính căn bản nhất của thơ ca là tưởng tượng và cảm thụ mãnh liệt. Thượng thư đã nói: “Thơ nói chí” [17, tr.1] (Trung Quốc); Lục Cơ từng nói: “Thi duyên tình nhi kỉ mị” [17, tr.
Bạch Cư Dị: “Thơ, gốc là tình, ngọn là ngôn ngữ, hoa là thanh âm, quả là ý nghĩa” [17, tr. Văn Nhất Đa nói: “Thơ là sự ngưng tụ tình cảm mãnh liệt” [20, tr. Quách Mạc Nhược nói: “Bản chất của thơ là thể hiện tình cảm” [18, tr. Biê-lin-xki đã nhấn mạnh: “Tình cảm là một trong những động lực chủ yếu nhất của bản chất thơ tình; không có tình cảm thì không có thi nhân, và cũng không có thơ ca” [3, tr.
Musset - nhà thơ lãng mạn Pháp - chủ trương: “Thơ là sự phát tiết của tình cảm cá nhân”, thi nhân đã viết trong một bài thơ: “Một lời nói, một nụ cười, một lời than, một cái nhìn đều tạo thành tác phẩm mang vẻ đẹp tinh tế, đầy ma lực và sự sợ hãi; Một giọt lệ biến thành một hạt trân châu; Đây chính là sự si mê của thi nhân trong cõi người Đây chính là hùng tâm và cuộc sống, là của cải của anh ta” Trên thực tế, thơ ca từ xưa đến nay đều lấy tình cảm làm đối tượng biểu đạt. Willam Hallit - nhà phê bình người Anh thế kỉ 19, nói: “Khủng khiếp là thơ, hi vọng là thơ, yêu thương là thơ, thù hận là thơ, khinh thường, đố kị là thơ, yêu mến, thương xót, tuyệt vọng hoặc điên cuồng, tất cả đều là thơ [15, tr. 59] (Tiếng Anh) Thơ ca không ngừng biểu hiện tình cảm, hoặc là mạnh mẽ hùng hồn, hoặc là trằn trọc băn khoăn, hoặc là vui sướng đến phát cuồng, hoặc buồn bã đến đoạn tuyệt, hoặc đau khổ, tất cả đều lộ bộc lộ mãnh liệt, nồng nàn, triền miên không 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Điều đó khiến cho ngay cả thơ tự sự cũng là sự hát lên trong tình cảm mãnh liệt của nhà thơ về một câu chuyện.
Điều đáng chú ý là, thơ ca, mặc dù lấy tình cảm làm đối tượng biểu hiện nhưng không có nghĩa là trong tình cảm mà thơ ca biểu hiện không tồn tại nhân tố ý và nghĩa. Tình cảm trong thơ gắn bó chặt chẽ với nhân tố nghĩa và chí. Chí và nghĩa là thành phần cấu thành tất yếu của tình cảm thơ ca. Cùng với tình cảm mãnh liệt, điều mà mọi người đều nhất trí là thơ ca có sự tưởng tượng phong phú.
Trong sáng tác thơ ca, khi tình cảm của nhà thơ dâng trào mãnh liệt, muốn dừng mà không được, thì những thể nghiệm thẩm mĩ và cảm thụ thẩm mĩ sẽ phá vỡ cái vỏ bề ngoài của sự thực khách quan, vượt qua giới hạn giữa vật và ta, giữa không gian và thời gian, thậm chí lấy sinh mệnh, tình cảm gán cho những vật thể vô tri vô giác. Lúc đó, trí tưởng tượng và suy nghĩ của thi nhân cứ miên man không dứt. Tưởng tượng giống như cánh chim tự do bay lượn. Tưởng tượng, bản thân nó lại giúp cho tình cảm được nâng lên một tầng cao mới.
Do đó, trong thơ ca: nhật, nguyệt, tinh tú, phong, hoa, tuyết, sấm chớp… đều chịu sự điều khiển của nhà thơ; sông hồ biển cả, núi cao đèo sâu, đều có thể bay lên nhảy múa; thảo mộc hoa lá, cá chim côn trùng đều có thể nói tình đạt ý. Tuyết Thái chỉ ra: “Trong ý nghĩa thông thường, thơ ca có thể giới thuyết là: sự biểu hiện của trí tưởng tượng” [16, tr. Willam Hallit nói: “Thơ ca là sự quyết liệt của tình cảm và huyễn tưởng” [14, tr. Ngải Thanh viết: “Không có tưởng tượng thì cũng không có thơ ca”, “tài năng quan trọng nhất của thi nhân chính là khả năng vận dụng trí tưởng tượng”, “Ý tượng, ý cảnh đều do tưởng tượng mà thành” [19, tr.
Về đặc trưng kết cấu: Thơ ca có kết cấu mang tính đột biến Trên phương diện hình thức bên ngoài, thơ ca có sự phân dòng, sắp đặt tiết tấu. Ở phương diện hình thức bên trong, thơ ca biểu hiện ra một loại kết cấu mang tính nhảy vọt. Cả hai đều khiến thơ ca khác với các thể loại văn học khác, nhưng kết cấu bên trong giữ vai trò quan trọng hơn. Đặc điểm của hình 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thức kết cấu mang tính nhảy vọt là: không tuân theo thứ tự không gian, thời gian tự nhiên mà tùy ý co giãn, lúc căng lúc chùng hết sức linh hoạt, lúc thì đột nhiên đến, lúc thì đột nhiên đi, từ đầu này nhảy đến đầu khác, từ có ý đến trống không; tỉnh lược quan hệ từ, tỉnh lược câu, đoạn mang tính quá độ, tính quá trình.
Đặc điểm này do đặc tính thẩm mĩ của thơ quyết định. Thơ ca bão hòa tình cảm, phong phú tưởng tượng, cho nên, tất yếu tuân theo logic của tình cảm và tưởng tượng, mà lô-gic của tình cảm và tưởng tượng là không chấp nhận giới hạn không gian thời gian, lúc thì ở chỗ này, lúc thì ở chỗ kia, thoắt ở trước mắt, thoắt lại ở sau lưng, nhảy nhót bất tận làm lộ ra một khoảng trống nhất định. Về ngôn ngữ: Thơ ca có sự kết tụ đặc biệt về ngôn ngữ, coi trọng sự lạ hóa, giàu tiết tấu và âm luật, phong phú về nhạc tính. Sự kết tụ đặc biệt của ngôn ngữ thơ ca là: vận dụng triệt để khả năng của câu thơ để biểu đạt nội dung phong phú, ý tứ rộng lớn, thậm chí yêu cầu mỗi từ đều phải có sức biểu hiện mãnh liệt, khiến cho một lời cũng thấu tình, hai chữ cũng đạt lí, lấy ít nói nhiều, bảo tồn được tình cảm và diện mạo.
Quách Tiểu Xuyên trong Xuân ca tập 1 viết: “Xuân ca hát hay nhưng làm không giỏi, mỗi câu mỗi chữ đều phải dùng hơn nghìn cân bút mực”.