Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY 1. Lịch sử hình thành và phát triển 1. Thông tin chung Tên gọi: Công ty cổ phần Viglacera Tiên Sơn. Trụ sở: Khu công nghiệp Tiền Hải, Xã Đông Lâm, Huyện Tiền Hải, Thái Bình Email: info@viglacera.vn Webbsite: www.com Điện Thoại: 0241.
Quá trình hình thành và phát triển Công ty Cổ phần Viglacera Tiên Sơn tiền thân là Công ty Gạch Granite Tiên Sơn là doanh nghiệp thành viên hạch toán phụ thuộc của Tổng Công ty Thuỷ tinh và Gốm Xây dựng, được thành lập từ năm 2001 theo quyết định số 1866 / QÐ - BXD ngày 02 tháng 11 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ xây dựng. Ngày 16 tháng 07 năm 2003, Bộ trưởng Bộ xây dựng ký quyết địnnh số 960/QÐ BXD sáp nhập Công ty Gạch Granite Tiên Sơn vào Công ty gạch men Thăng Long và đổi tên Công ty Gạch men Thăng Long thành Công ty Gạch ốp lát Thăng Long – Viglacera thuộc Tổng Công ty Thuỷ tinh và Gốm Xây dựng. Ngày 19 tháng 01 năm 2004, Bộ trưởng Bộ xây dựng ký quyết định số 111/QÐ - BXD về việc thay đổi trụ sở chính của Công ty gạch ốp lát Thăng Long xã Phúc Thắng huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc chuyển đổi trụ sở mới tại khu công nghiệp Tiên Sơn – huyện Tiên Du – tỉnh Bắc Ninh. Ngày 23 tháng 11 năm 2005, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Thuỷ tinh và Gốm Xây dựng ký quyết địnhh số 305/QÐ - HÐQT đổi tên Công ty Gạch ốp lát Thăng Long- Viglacera thành Công ty Granite Tiên Sơn- Viglacera.
Tieu luan Ngày 23 tháng 01 năm 2007, Chủ tịch hội đồng Quản trị Tổng Công ty Thuỷ tinh và gốm xây dựng ký quyết định số 28/QÐ - HÐQT đổi tên Công ty Granite Tiên Sơn – Viglacera thành Công Ty Granite Viglacera Tiên Sơn. Năm 2002 Công ty đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO : 9001:2000 - Tháng 05/2006 Công ty áp dụng hệ thống quản lý 5S và Kaizen vào hoạt động sản xuất. Sản xuất và kinh doanh các loại gạch ốp lát ceramic, granite và các loại vật liệu xây dựng khác. Thực hiện hoàn thiện và trang trí các công trình dân dụng và công nghiệp.
Sản xuất khai thác vật liệu xây dựng - Khai thác và chế biến khoáng sản- Ðầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình dân dụng và công nghiệp- Dịch vụ vận chuyển hàng hoá các loại. Kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp, đầu tư liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. Ðầu tư và kinh doanh Tài chính, chứng khoán, ngân hàng và bất động sản. Quy trình sản xuất 1.
Sơ đồ mặt bằng Qua tìm hiểu thực thế em đã vẽ lại sơ đồ mặt bằng của công ty qua hình 1.1 Tieu luan QL 39B 5m (9) (14) m 4 m 0 1 60m 20m 20m 20m (10) m 5 2 (6) (7) (8) m 0 1 10m (11) m 2 1 (5) (4) 0 2 1m 0 0 2m (2) (3) m 2 1 5m 40m 20m (1) (13) (12) m 2 1 m 8 2 30m 60m 105m Hình 1.1 Sơ đồ mặt bằng công ty Tieu luan Diện tích của các nhà xưởng của công ty được thể hiện qua bảng 1. Diện tích các nhà xưởng và các phòng ban Ký hiệu Tên phòng và nhà xưởng Diện tích(m2) 1 Phân xưởng máy nghiền 1680 2 Phân xưởng sấy 480 3 Phân xưởng máy dập 240 4 Phân xưởng nung 4800 5 Phân xưởng mài 2400 6 Phòng trưng bày sản phẩm 200 7 Phòng tài chính 200 8 Phòng KCS 200 9 Phòng bảo vệ 20 10 Bãi để xe 250 11 Trạm phân phối khí 120 12 Bãi chứa nguyên liệu 840 13 Phòng thay đồ và nhà vệ sinh 50 14 Vườn cây cảnh 600 1.2 Quy trình sản xuất Quy trình công nghệ sản xuất gạch men gồm các công đoạn được mô tả tổng quát trên hình 1. Nguyên liệu Nghiền Sấy phun Định hình Thành phẩm Mài Nung Tráng men Hình 1. Sơ đồ khối các công đoạn sản xuất gạch men Công đoạn 1: Nghiền nguyên liệu Nguyên liệu làm gạch men gồm đất, cát, đá, hóa chất.
Tất cả được đưa vào khâu nghiền nguyên liệu. Sau khi nghiền xong hỗn hợp này được đưa xuống Tieu luan hầm chứa có qua bộ phận lọc. Hỗn hợp nằm ở hầm chứa để tránh đông đặc nhờ các động cơ có gắn trục cánh quạt ở dưới hầm quay để trộn đều. Công đoạn 2: Sấy nguyên liệu Hỗn hợp từ hầm chứa được đưa qua bộ phận sấy phun ở lò sấy.
Ở đây hỗn hợp từ dạng lỏng sẽ sấy để trở thành dạng bột, sau đó bột được đưa vào bồn chứa. Công đoạn 3: Định hình Bột từ bồn chứa đưa bằng băng tải có gầu xúc đến bồn máy dập. Tại đây bột đưa xuống khuôn in và máy dập thành khối tạo hình tấm gạch. Công đoạn 4: Tráng men Gạch từ công đoạn định hình đi qua lò sấy rồi đưa qua bộ phận tráng men, in màu.
Xong công đoạn này gạch được đưa vào xe chứa. Công đoàn 5: Nung gạch Gạch đã được tráng men từ xe chứa đưa vào bộ phận lò nung làm cho gạch chín và sau một thời gian (khoảng 45 phút) gạch được đưa ra bộ phận KCS Công đoạn 6: Mài gạch Gạch sau khi nung sẽ được chuyển qua dây truyền mài gồm có mài thô, mài bóng, mài vát cạnh. Qua công đoạn này gạch sẽ được phân loại và đóng gói Bảng 1. Các sản phẩm của nhà máy STT Tên sản phẩm 1 Sản phẩm Crystal C series Tieu luan 2 Sản phẩm Crystal K Series 3 Sản phẩm Crystal A Series 4 Sản phẩm giả cổ R series 5 Sản phẩm Hạt mịn D series 6 Sản phẩm mài bóng B series 7 Sản phẩm men khô 8 Sản phẩm chân tường 9 Sản phẩm UERO + Nhận xét: Qua thời gian thực tập ở công ty và được sự chia sẻ của các cán bộ trong công ty em được biết: Công ty nhận điện từ lộ điện 470 E1.1 Tiền Hải và đường dây đi song song với công ty về phía đông.
Trong những năm gần đây công ty rất ổn định sản xuất kinh doanh và được đảng và nhà nước quan tâm phát triển. Với diện tích, dây truyền ổn định từ những năm xây dựng nhà máy thì công ty trong những năm tới công ty sẽ giữ nguyên mô hình sản xuất và chỉ phát triển mẫu mã sản phẩm theo nhu cầu của khách hàng. Tieu luan Chương 2 XÁC ĐỊNH PHỤ TẢI 2. Các phương pháp xác định phụ tải tính toán Phụ tải tính toán là phụ tải giả thiết lâu dài không đổi, tương đương với phụ tải thực tế về mặt hiệu ứng nhiệt lớn nhất.
Nói cách khác, phụ tải tính toán cũng làm nóng dây dẫn lên tới nhiệt độ bằng nhiệt độ lớn nhất do phụ tải thực tế gây ra, vì vậy chọn các thiết bị theo phụ tải tính toán sẽ đảm bảo an toàn cho thiết bị về mặt phát nóng. Phụ tải tính toán được sử dụng để lựa chọn và kiểm tra các thiết bị trong hệ thống cung cấp điện như: máy biến áp, dây dẫn, các thiết bị đóng cắt, bảo vệ… Tính toán tổn thất công suất, tổn thất điện năng, tổn thất điện áp, lựa chọn dung lượng bù công suất phản kháng… Phụ tải tính toán phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: công suất, số lượng, chế độ làm việc của các thiết bị điện, trình độ và phương thức vận hành hệ thống… Nếu phụ tải tính toán xác định được nhỏ hơn phụ tải thực tế thì sẽ làm giảm tuổi thọ của thiết bị điện, có khả năng dẫn đến sự cố, cháy nổ… Có nhiều phương pháp để xác định phụ tải tính toán, mỗi phương pháp lại có những ưu nhược điểm khác nhau. Những phương pháp cho kết quả đủ tin cậy thì quá phức tạp, khối lượng tính toán lớn và những thông tin đòi hỏi ban đầu quá lớn và ngược lại. Theo tr22-tr33, Giáo trình cung cấp điện cho khu công nghiệp và khu dân cư, Thầy Vũ Hải Thuận ta có một số phương pháp xác định phụ tải tính toán: 2.
Xác định phụ tải tính toán theo suất tiêu hao điện năng hoặc suất tiêu thụ công suất Ta có các trường hợp sau: a. Theo suất tiêu hao điện năng trên một đơn vị sản phẩm Phụ tải tính toán theo suất tiêu hao điện năng trên một đơn vị sản phẩm được tính theo công thức (2-1) Tieu luan N. T: Thời gian (h) để sản xuất ra N sản phẩm. Theo suất phụ tải trên một đơn vị diện tích (mật độ phụ tải) Phụ tải tính toán theo suất phụ tải trên một đơn vị diện tích được tính theo công thức (2-2).F (kW) (2-2) p0: suất phụ tải trên một đơn vị diện tích (mật độ phụ tải) (kW/m 2), p0 có thể tra trong các sổ tay kỹ thuật hoặc tài liệu thiết kế.
F: diện tích vùng quy hoạch hoặc vùng thiết kế (m2). Theo suất phụ tải trên một đơn vị chiều dài Phụ tải tính toán theo suất phụ tải trên một đơn vị chiều dài được tính theo công thức (2-3). L: chiều dài khu vực thiết kế. Phương pháp này chỉ cho kết quả gần đúng, vì vậy thường dùng trong quy hoạch hoặc thiết kế sơ bộ.
Xác định phụ tải tính toán theo hệ số nhu cầu Phụ tải tính toán của nhóm thiết bị có cùng chế độ làm việc được tính toán theo biểu thức: n ∑ Ptt = knc. i=1 Pđmi (kW) (2-4) Trong đó: knc = kmax .ksd Tieu luan 1− k ∑¿ sd ¿ knc = ksd∑ + √n hq n ∑ k sdi. Pđmi i=1 n ∑ Pđmi ksd∑ = i=1 (2-5) knc - Hệ số nhu cầu, tra trong sổ tay kỹ thuật. Pđmi - Công suất định mức của thiết bị thứ i.
n - Số thiết bị hiệu quả. Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, tính toán thuận tiện nên thường được áp dụng. Nhược điểm là kém chính xác vì hệ số k nc tra trong sổ tay là hệ số không xét đến chế độ vận hành thực tế của phụ tải và số thiết bị trong nhóm máy. Nếu chế độ vận hành và số nhóm máy thay đổi thì kết quả tính toán theo hệ số nhu cầu sẽ không chính xác.
Do vậy phương pháp này thường áp dụng trong tính toán sơ bộ hoặc quy hoạch. Xác định phụ tải tính toán theo hệ số cực đại Khi cần nâng cao độ chính xác của phụ tải tính toán hoặc khi không có các số liệu cần thiết để áp dụng các phương pháp tương đối đơn giản đã nêu ở trên thì ta dùng phương pháp này. Công thức tính: Ptt = kmax. kmax- Hệ số cực đại, tra trong sổ tay kỹ thuật.
ksd - Hệ số sử dụng, tra trong sổ tay kỹ thuật. Hệ số cực đại được tính theo công thức: 1.