CHƯƠNG 1. Tinh cấp thiết của đề tài Ngành gỗ được đánh giá là một trong những ngành có tiềm năng lớn và tốc độ phát triển nhanh. Điều này đã được chứng minh một cách rõ ràng qua các số liệu về sản lượng gỗ và tốc độ tăng trưởng của ngành gỗ thé giới. Cụ thé, Dù trải qua đại dịch COVID-19, ngành gỗ Việt Nam vẫn đạt được những kết quả xuất khâu ấn tượng.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản, xuất khâu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 5,48 tỷ đô trong 4 tháng đầu 2022. So với cùng kỳ năm 2021, con số này đã tăng 4,9%. Riêng trong tháng 4, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,5 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Về thị trường xuất khẩu, Việt Nam xuất khâu gỗ và lâm sản sang hơn 140 quốc gia.
Tính đến 3/2022, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc là ba nước nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam. Hoa Kỳ và Châu ÂU chiếm 80% trong thị phần xuất khâu của Việt Nam. Xét về thị trường trong khối EU, Đức từ lâu đã trở thành thị trường xuất khâu trọng điểm. Xét về thị trường Bi, kim ngạch xuất khẩu đạt 13 triệu USD.
Tuy con số này khá nhỏ nhưng đã tăng trưởng với tốc độ khá nhanh, ở mức 40,4% Xét về mức độ phát triển thì châu A — Thái Bình Dương, Bắc Mỹ và Đông Âu là những khu vực có ngành công nghiệp gỗ phát triển mạnh mẽ. Riêng ở thị trường Châu A, Việt Nam cũng là một trong những tên tuổi lớn trong trong ngành công nghiệp này. Cụ thể, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ngành chế biến gỗ Việt Nam đang đứng số 1 Đông Nam A, số 2 châu A và thứ 5 thế giới, với mức tăng trưởng bền vững lên đến 2 con số trong suốt 20 năm qua. Đặc biệt, trong năm 2019, tốc độ tăng trưởng của ngành chế biến gỗ Việt Nam đã cán mốc 18%.
Từ thực trạng nêu trên, ngành gỗ hoàn toàn có đủ điều kiện để có thé phát triển một cách nhanh chóng và bền vững. Đồng thời, cùng sự phát triển và nhu cầu của thị trường thì thị trường cung cầu gỗ sẽ còn tiếp tục được mở rộng. Đây vừa là cơ hội nhưng cũng vừa là thách thức cho ngành gỗ thế nói giới nói chung và Việt Nam nói riêng, nhất là trong bối cảnh đại dịch Covid — 19 vẫn đang diễn biến phức tạp như hiện nay. Trước xu hướng phát triển mạnh mẻ của ngành gỗ trong thời gian qua.
Được sự phân công của và hướng dan tận tình của TS. Tăng Thi Kim Hồng, tôi tiến hành thực hiện đề tài “THIẾT KE SAN PHAM ROUND NIGHTSTAND THEO PHONG CÁCH HIỆN ĐẠI TAI CONG TY CO PHAN TRAN ĐỨC”? 1. Y nghĩa khoa học và thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học Các sản phẩm đồ mộc hiện nay yêu cầu về nhân trắc học, về kinh tế và về văn hóa của khánh hang.
Sản phẩm yêu cầu có tính công nghiệp, tính khoa học cao trong khâu sản xuất cũng như sử dụng. Đề tài góp phần nhỏ vào sự phát triển của ngành gỗ Việt Nam, đồng thời góp phần vào kho tài liệu tham khảo tốt nghiệp của hệ thong thu viện trường dai hoc Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và cũng vừa là đề tài báo cáo tốt nghiệp đại hoc. Ý nghĩa thực tiễn Trong công nghiệp chế biến gỗ hiện nay, công tác thiết kế mang ý nghĩa to lớn. Đối với những dòng sản phẩm trong nước hiện nay, nếu chú trọng đến thiết kế sẽ dan loại bỏ việc sản xuất theo kinh nghiệm, sản phẩm mang tính khoa học công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
Đối với sản phâm mộc xuất khẩu — một trong những mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam hiện nay thì công việc thiết kế chuyên nghiệp sẽ giúp cho sản pham da dạng về mau mã và mang phong cách người Việt, đưa ngành công nghiệp chế biến gỗ lên tầm cao mới. Pham vi nghiên cứu Trong quá trình làm đề tài do có giới hạn thời gian cũng như điều kiện thực hiện nên phạm vi nghiên cứu của đê tài tập trung vào các nội dung sau: - Phạm vi không gian: Dé tài được nghiên cứu tại CÔNG TY CO PHAN TRAN ĐỨC - Lĩnh vực nghiên cứu: Thiết kế sản phẩm mộc. - Vật liệu nghiên cứu: Vật liệu gỗ tự nhiên và gỗ công nghiệp - Đối tượng nghiên cứu: Bàn Round Nightstand - Đối tượng sử dụng: Sử dụng cho phòng ngủ CHƯƠNG 2. Tổng quan về ngành gỗ ở Việt Nam Hiện nay, nước ta có khoảng 3.500 công ty chế biến gỗ, 340 làng nghề gỗ va lượng lớn các hộ gia đình sản xuất kinh doanh đồ gỗ.
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và phát trién Nông Thôn thì những cơ sở chế biến gỗ thường có quy mô nhỏ. Theo nguồn gốc vốn thì có 5% doanh nghiệp thuộc sở hữu quốc gia, 95% còn lại là thuộc khu vực bôn nhân, và có 16% có von đâu tứ nước ngoài (FDI). Về lao động, ngành công nghiệp chế biến gỗ có khoảng 250. Trong đó, 10% lao động có trình độ đại học trở lên; 45-50% lao động thường xuyên được đảo tạo, cuối cùng là 35-40% lao động theo mùa vụ.
Song dù có số lượng lao động lớn nhưng đa phần công nhân chưa được đào tạo bài bản, thiếu chuyên nghiệp. Sự phân công lao động không hợp lý, giảm sát, điều hành vẫn còn thiếu hiệu quả đang là những vấn đề nổi cộm hiện giờ. Năng suất lao động trong ngành chế biến gỗ ở Việt Nam còn thấp: bằng 50% của Philippines, 40% năng suất của Trung Quốc và chỉ bằng 20% năng suất lao động của Châu Âu (EU). Với tinh trạng này, vấn dé đào tạo và bỗ sung nguồn nhân công có tay nghề cao, có khả năng dùng tốt các kỹ thuật hiện đại trong sản xuất là vấn đề quan trọng đối với ngành hàng chế biến gỗ.
Về công nghệ sản xuất, cac doanh nghiệp gỗ Việt Nam được phân theo 4 cấp độ: nhóm các công ty FDI và các doanh nghiệp to và vừa sản xuất tác phâm xuất khẩu, nhóm các tổ chức sinh sản ván nhân tạo, nhóm những tổ chức chế biến đồ gỗ mỹ nghệ. Nhìn chung trong thời kì qua những tổ chức chế biến gỗ đã có 1 số cố gắng trong cải tiễn công nghệ sử dụng trong chế biến gỗ. Áp dụng rộng rãi khoa học mới, hiện đại như khoa học xử lý biến tính g6, tạo những vật liệu composite gỗ cũng đã được đầu tư tại Việt Nam 2. _ Tình hình nguyên liệu gỗ tại Việt Nam Nguyên liệu của ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam hiện có nhiều khó khăn, chủ yếu từ hai nguồn cơ bản: Nguồn nguyên liệu gỗ trong nước (gỗ tự nhiên và gỗ rừng trồng) và nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu.
Về nguồn vật liệu gỗ trong nước thì tính từ lúc năm 2014 Chính phủ quyết định đóng cửa rừng tự nhiên, do vậy nguôn nguyên liệu gô nội địa chỉ còn trông mong vào gô rừng trông. Nguyên liệu gỗ rừng trồng hiện đạt khoảng 3,2 triệu ha, với trữ lượng gỗ dat khoảng 60 triệu m3. Sản lượng gỗ rừng đạt trên 5 triệu m3/năm, sản lượng gỗ này cốt yếu là keo và khuynh diép. Các doanh nghiệp Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn khi xuất sang hai thị trường là Châu Âu và Hoa Kỳ đều bắt buộc phải dùng 70% vật liệu có chứng chỉ FSC, 30% còn lại là gỗ có nguồn gốc.
Từ tháng 3/2013, công ty xuất khâu gỗ vào EU còn phải gánh thêm đạo luật FLEGT đòi hỏi những lô đồ gỗ nhập vào EU phải sáng tỏ, rõ ràng về cỗi nguồn gỗ vật liệu mới cho nhập khâu. Bên cạnh đó, nguồn gỗ trong nước không đáp ứng với nhu cau sản xuất đồ gỗ xuất khâu và cũng chưa có chứng chi FSC. Hiện nay, trên địa bàn cả nước thế hệ có khoảng 20.000 ha rừng được cấp chứng chỉ, trong đó có 9.900 ha là vùng vật liệu dé đáp ứng nhà máy giấy của Nhật tại Quy Nhơn, trên 10 nghìn ha là nguyên liệu của công ty giấy Bãi Bằng. Nguồn nguyên liệu gỗ của Việt Nam bị tác động đáng ké từ gỗ nhập khẩu.
Lượng gỗ nhập khẩu khá to chiếm 30-50%. Kim ngạch nhập khâu gỗ nguyên liệu bằng 30% kim ngạch xuất khâu công trình gỗ. Về thị trường nhập khâu, Việt Nam đang nhập khẩu từ trên 100 nhà nước và vùng lãnh thổ. Nguyên liệu gỗ được nhập cảng từ Lào và Campuchia nhưng nguồn cung này đang hết sạch.diễn ra từ năm 2005 đến nay, Malaysia và Indonesia đã đóng cửa mặt hàng gỗ bổ, gây pho thông gian truân cho các tổ chức vừa và bé.
Giá gỗ bình quân từ 5% — 7%, đặc biệt là gỗ cứng đã tăng từ 30% — 40%, khiến cho phổ biến tô chức Việt Nam rơi vào trạng thái khó khăn. Những nguồn lâm sản ngoài gỗ như tre, mía, song, mây, keo. rất phong phú. Bên cạnh đó, để phục vụ cho lĩnh vực công nghiệp chế biến gỗ chỉ có có tre nứa và song mây là hai nguồn vật liệu căn bản.
Khác với nguồn vật liệu gỗ khả năng nhập khẩu, nguồn nguyên liệu tre nứa, song mây đáp ứng sinh sản hầu hết được phục vụ từ trong nước. Nước ta hiện nay có khoảng 1,4 triệu ha tre, tương đương 6,2 tỷ cây. Trong day, khoảng 6% kích thước rừng trồng, còn lại là rừng tự nhiên. Cả nước có 37 tinh có rừng tre.
Những loài tre có trị giá thương mại cao là luồng, trúc và tầm vông. Cả nước có khoảng 30.000ha mây, phân bố ở 28 tỉnh trên cả nước va hầu hết là mây thiên nhiên, chiêu dài, chiêu rộng, chiêu cao mây trông rat it. Hiệp hội Gỗ và lâm sản cho rằng Chính phủ cần điều chỉnh cơ cấu rừng trồng cho phù hợp, ổn định khoảng 3,8 triệu ha rừng trồng sản xuất vào năm 2020, tăng chất lượng rừng dé dat sản lượng gỗ thương phẩm bang 80% trữ lượng, trong ấy có 40% là gỗ béo. thiết kế các vùng vật liệu gỗ tụ hợp ở vùng Đông Bắc, Bắc Trung bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ đề hỗ trợ nguyên liệu gỗ bé cho những khu vực sắp nhà máy và cung cấp vật liệu gỗ bự cho lĩnh vực công nghiệp chế biến gỗ tại địa phương và khu vực phụ cận.
Tổng quan về công ty Trần Đức Group được chính thức thành lập từ năm 2000 với tên gọi là công ty TNHH SX - DV Trần Đức, sau hơn 15 năm phát triển Trần Đức Group đã trở thành một trong những tập đoàn sản xuất đồ gỗ xuất khẩu hàng đầu của cả nước nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng.