Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài Chương 2: Khảo sát một số giáo trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài bậc cơ sở và tình hình kiểm tra và đánh giá trình độ tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài học tiếng Việt hiện nay. Chương 3: Thiết kế bài kiểm tra và đánh giá trình độ tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài học tiếng Việt ở trình độ sơ cấp. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai Hầu hết các nhà ngôn ngữ học dạy tiếng đều cho rằng ngôn ngữ thứ nhất là tiếng mẹ đẻ (mother tongue), là tiếng nói đƣợc sử dụng từ khi sinh ra cho đến khi trƣởng thành trong xã hội của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó. Ngôn ngữ thứ hai thƣờng đƣợc hiểu ở hai góc độ: - Với ngƣời nƣớc ngoài khi học một ngoại ngữ thì ngoại ngữ đó đƣợc gọi là ngôn ngữ thứ hai.
- Ở một số nƣớc sử dụng đa ngôn ngữ, thì ngôn ngữ phổ thông đƣợc gọi là ngôn ngữ thứ nhất, còn ngôn ngữ của của một cộng đồng đƣợc gọi là ngôn ngữ thứ hai, chẳng hạn ở Mỹ, tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất, tiếng Tây Ban Nha của cộng đồng ngƣời Tây Ban Nha ở Mỹ là ngôn ngữ thứ hai; ở Úc, tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất, các ngôn ngữ của các cộng đồng dân tộc khác nhau là ngôn ngữ thứ hai (Languages other than English - LOTE) Ngoài cách hiểu trên, còn có một số cách hiểu về ngôn ngữ thứ hai thể hiện qua bảng sau: Ngôn ngữ thứ nhất (first language) Ngôn ngữ thứ hai (second language) Bản ngữ (native language) Không phải bản ngữ (non-native language) Tiếng mẹ đẻ (mother language) Ngoại ngữ (forein language) Ngôn ngữ chính (primary language) Ngôn ngữ phụ (secondary language) Trong việc giảng dạy cũng nhƣ đánh giá trình độ ngôn ngữ chúng ta cần phải tính đến sự phân biệt giữa tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ một cách rõ ràng hơn. Quá trình thụ đắc các kiểu ngôn ngữ này khác 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhau về cơ chế, động cơ lẫn quá trình. Chẳng hạn tiếng mẹ đẻ, thƣờng là ngôn ngữ thứ nhất, đƣợc hình thành qua quá trình thụ đắc ngôn ngữ sớm (early language acquisition), trong khi học ngoại ngữ lại hình thành từ sự thụ đắc ngôn ngữ muộn (late language acquisition). Trình độ của các kiểu ngôn ngữ này đƣợc đánh giá ở những khía cạnh khác nhau.
Việc đánh giá tiếng mẹ đẻ quan tâm nhiều đến vấn đề chính xác trong phát âm, phản xạ ngôn ngữ, cảm quan giao tiếp, cơ tầng văn hóa trong ngôn ngữ, trong khi việc đánh giá ngoại ngữ chẳng hạn lại chú ý nhiều hơn đến lĩnh vực giao tiếp theo tình huống. Trình độ tiếng mẹ đẻ thƣờng gắn liền với khả năng tƣ duy, trình độ học vấn và hiểu biết xã hội, trong khi trình độ ngoại ngữ thƣờng thể hiện qua vốn từ vựng, sự hiểu biết về cấu trúc cú pháp, sự phân biệt phong cách và khả năng diễn đạt.2 Quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Thụ đắc ngôn ngữ là quá trình mà con ngƣời đạt đƣợc khả năng nhận thức, sản sinh và sử dụng từ ngữ để hiểu và giao tiếp. Ngôn ngữ này có thể ở dạng nói hoặc dạng viết. Năng lực này bao gồm các khả năng đa dạng về cú pháp, ngữ âm và một vốn lớn từ vựng.
Việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai là quá trình mọi ngƣời học một ngôn ngữ thứ hai ngoài ngôn ngữ mẹ đẻ của họ, quá trình này diễn ra sau quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất tức là khi ngôn ngữ thứ nhất đã ổn định. Thừa nhận rằng một ngôn ngữ có thể đƣợc dạy và học với tƣ cách là tiếng mẹ đẻ hoặc là một ngoại ngữ hay ngôn ngữ thứ hai. Nhƣ phân tích ở trên, các kiểu ngôn ngữ này có quá trình thụ đắc ngôn ngữ khác với tiếng mẹ đẻ. Khi trẻ em đến tuổi đi học thì dù chƣa có kiến thức về ngôn ngữ nhƣng đã có sẵn các khả năng sử dụng ngôn ngữ đó nhƣ khả năng nghe, nói và hiểu (Quá trình thụ đắc sớm).
Những ngƣời học ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thì đi theo quá trình ngƣợc lại. Họ đã biết một ngôn ngữ, đã nắm đƣợc các khái niệm chung nhƣ ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp…và bắt đầu học các hệ thống đó để có khả năng sử dụng ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai này (Quá trình thụ đắc muộn hoặc Quá trình thụ đắc nối tiếp). Trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai có sự tiếp xúc và tƣơng tác giữa hai ngôn ngữ thứ nhất hay tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ. Các học viên trong giai đoạn đầu phải sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ để nhận biết những sự tƣơng đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, đó là nguyên tắc đối chiếu tƣơng phản.
Hai ngôn ngữ nguồn và đích có thể giống nhau, có thể hoàn toàn khác nhau hoặc chỉ có một số điểm tƣơng đồng. Do đó, khi dạy, học một ngoại ngữ cần chú ý đến việc đối chiếu giữa ngôn ngữ mẹ đẻ của ngƣời học và ngôn ngữ đích để tìm ra những điểm giống và khác nhau nhằm tìm ra phƣơng pháp dạy hiệu quả nhất. Các nhà nghiên cứu cho rằng, quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai đã hình thành nên ngôn ngữ trung gian (interlanguage) nhƣ là bƣớc đệm, chuyển tiếp giữa hai ngôn ngữ. Ngôn ngữ trung gian sẽ từng bƣớc rời xa ngôn ngữ thứ nhất và ngày càng tiến gần ngôn ngữ thứ hai trong quá trình học.
Có nhiều mục đích khác nhau dẫn tới việc học ngôn ngữ thứ hai, đặc biệt là trong xã hội hiện nay, khi sự giao lƣu quốc tế ngày càng phát triển. Ngƣời học có thể học ngoại ngữ vì mục đích nghiên cứu, học tập, làm việc hoặc vì mục đích kinh doanh, vì sở thích cá nhân…Nhƣng nhìn chung, mục đích chính của việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai là để giao tiếp bằng ngôn ngữ đó và tìm hiểu các kiến thức văn hoá, xã hội, lịch sử, kinh tế…của dân tộc nói ngôn ngữ đó. Dù học với mục đích gì thì bất cứ học viên nào cũng có những khó khăn và thuận lợi nhất định khi học một ngoại ngữ. Hơn nữa, có rất nhiều nhân tố khác nhau ảnh hƣởng, tác động đến quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai của một ngƣời.
Đó là vấn đề tuổi tác, quan niệm của cá nhân, gia đình và 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xã hội đối với ngôn ngữ thứ hai này. Đó còn là vấn đề sức khoẻ, tâm lí, động cơ thúc đẩy học viên, các điều kiện về các phƣơng tiện kĩ thuật hỗ trợ… Môi trƣờng giao tiếp cũng là một yếu tố quan trọng quyết định tới quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai. Nếu việc học diễn ra trong môi trƣờng giao tiếp bằng chính ngôn ngữ đích thì quá trình học sẽ gặp nhiều thuận lợi và rút ngắn đƣợc thời gian, công sức. Ngƣợc lại, nếu việc học đƣợc tiến hành trong môi trƣờng mà giao tiếp xã hội không sử dụng ngôn ngữ đích thì ngƣời học sẽ có nhiều khó khăn hơn.
Thụ đắc ngôn ngữ thứ hai là một quá trình phức tạp và diễn ra theo nhiều giai đoạn. Một số nghiên cứu cho thấy hầu hết các học viên bắt đầu quá trình thụ đắc ngôn ngữ bằng một “giai đoạn im lặng”, khi đó họ nói rất ít, thậm chí không nói gì. Đó là cách phản ứng đối với sự “sốc ngôn ngữ” chƣa đƣợc vƣợt qua.3 Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Trên phƣơng diện ngôn ngữ học dạy tiếng thì có thể hiểu “Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu âm thanh mà con ngƣời dùng để giao tiếp”. Ban đầu, con ngƣời chỉ dùng hệ thống ký hiệu âm thanh để giao tiếp, tức là chỉ có ngôn ngữ nói.
Trong quá trình phát triển ngôn ngữ và tƣ duy, trên cơ sở ngôn ngữ âm thanh, con ngƣời đã phát triển một loại ký hiệu khác để ghi lại ngôn ngữ, đó là chữ viết. Vì vậy, ngày nay, chúng ta có ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Cả hai hệ thống ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết đều phục vụ cho việc giao tiếp của con ngƣời, tuy nhiên mỗi hệ thống lại có những sự khác biệt nhất định. Việc phân biệt hai hệ thống đó sẽ giúp cho việc dạy tiếng có hiệu quả hơn, phục vụ cho nhu cầu giao tiếp ngôn ngữ tốt hơn.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về cơ bản, ngôn ngữ nói là một hệ thống phát âm và thu nhận âm; có nghĩa là, trong giao tiếp ngôn ngữ, giữa ngƣời nói và ngƣời nghe đã hình thành nên một hệ thống chung về nhận diện, mô tả và phân tích âm, sự đồng nhất giữa âm và nghĩa. Nói cách khác, để có thể giao tiếp đƣợc bằng tiếng nói, ngƣời ta phải nói đƣợc, nghe đƣợc và hiểu đƣợc. Đây là hai kỹ năng cơ bản cần đƣợc rèn luyện để ngƣời học có thể sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp. Hệ thống chữ viết, về cơ bản, gồm 2 loại: chữ ghi âm và chữ ghi ý (bao gồm cả chữ tƣợng hình).
Dù là hệ thống ghi âm hay ghi ý thì chữ viết cũng là một hệ thống ký hiệu dùng để ghi lại âm thanh của tiếng nói con ngƣời. Để có thể giao tiếp bằng chữ viết, học sinh cần đƣợc rèn luyện kỹ năng đọc hiểu và viết. Trên phƣơng diện giáo dục ngôn ngữ, chúng ta có thể hình dung đƣợc sự phân chia nhƣ sau: Ngôn ngữ Tiếng nói Chữ viết 1. Đọc Tiếp thụ 2.
Viết Truyền đạt Qua sơ đồ trên, chúng ta có thể nhận thấy, 4 mục tiêu chính trong dạy tiếng đáp ứng cho hai địa hạt chính là: dạy ngôn ngữ nói và dạy ngôn ngữ viết với 4 kỹ năng cơ bản mà chúng ta cần chú trọng. Để phát triển ngôn ngữ nói, 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chúng ta phải tập trung vào hai kỹ năng: nghe - hiểu và nói; để phát triển ngôn ngữ viết, chúng ta phải tập trung vào hai kỹ năng: đọc - hiểu và viết. Hơn nữa, cũng cần phải chú ý đến tính chủ động, thụ động trong việc giảng dạy ngôn ngữ. Trong 4 kỹ năng, nghe, nói, đọc, viết thì kỹ năng nghe và đọc mang tính thụ động, tức là ngƣời học phải nghe, hiểu đƣợc ngƣời khác nói gì, phải đọc, hiểu đƣợc ngƣời khác viết gì, tức là ngƣời học phải đƣợc rèn luyện kỹ năng tiếp thụ.
Với kỹ năng nói và viết, ngƣời học có khả năng chủ động lựa chọn, nói gì hoặc viết gì, tức là ngƣời học chủ động sản sinh văn bản.