Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam là quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Tày là cộng đồng có dân số đông thứ hai, chỉ đứng sau người Kinh. Đồng bào người Tày hiện cư trú rộng khắp trên 23 tỉnh thành, tập trung mật thiết tại các tỉnh miền núi Đông Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Hà Giang. Trong kho tàng di sản tinh thần đồ sộ của người Tày, chữ Nôm Tày vinh dự là di sản duy nhất về tiếng nói và chữ viết trong tổng số 19 Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận. Được ghi chép bằng thứ văn tự cổ kính xuất hiện từ khoảng thế kỷ thứ V và hoàn thiện rực rỡ vào thế kỷ XVII, kho tàng truyện thơ Nôm Tày sở hữu gần 100 đầu truyện phong phú, phản ánh sinh động hiện thực đời sống và tâm thức tộc người.

Tuy nhiên, trong khi truyện thơ Nôm của người Kinh đã được giới nghiên cứu khảo sát toàn diện qua hàng trăm công trình chuyên sâu, thì mảng truyện thơ Nôm Tày vẫn chưa được khai thác tương xứng với tầm vóc thể loại. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam với tiêu đề "Thiên nhiên và con người miền núi trong một số truyện thơ Nôm Tày" được thực hiện nhằm giải mã có hệ thống vẻ đẹp thẩm mỹ của cảnh sắc thiên nhiên và những giá trị nhân văn sâu sắc của con người vùng cao. Phạm vi nghiên cứu tập trung khảo sát 10 tác phẩm truyện thơ tiêu biểu thuộc giai đoạn văn học trung đại, hoàn thành nghiệm thu vào tháng 12 năm 2021 tại Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa học thuật tiên phong khi bổ sung nguồn ngữ liệu chuẩn xác phục vụ giảng dạy phân môn Văn học địa phương tại hơn 30 trường trung học phổ thông vùng núi cao, đồng thời nâng cao hiệu quả bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người trong kỷ nguyên hội nhập.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Công trình được xây dựng trên nền tảng kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết thi pháp học văn học trung đại của các học giả như Trần Đình Sử, Đặng Thanh Lê cùng lý thuyết nghiên cứu văn học dân gian folklore của Đinh Gia Khánh, Võ Quang Nhơn và Phan Đăng Nhật. Khung lý thuyết này cho phép xem xét truyện thơ Nôm như một thể loại tự sự kết hợp trữ tình đặc thù, vừa mang tính chất văn học viết lại vừa thấm đượm phương thức diễn xướng dân gian. Mô hình nghiên cứu vận dụng tiếp cận đa tầng sinh thái nhân văn, đặt mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người trong hệ quy chiếu không gian văn hóa tộc người Tày thời kỳ trung đại kéo dài từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX.

Luận văn làm sáng tỏ 4 khái niệm then chốt làm công cụ phân tích xuyên suốt: khái niệm truyện thơ Nôm Tày như một thể loại tự sự bằng thơ chữ Nôm Tày, khái niệm không gian nghệ thuật miền núi gắn với địa hạt cư trú bản địa, khái niệm nhân vật trung tâm mang tính lý tưởng hóa trong thi pháp văn học cổ điển, và khái niệm biểu tượng thẩm mỹ sinh thái phản ánh thế giới quan vạn vật hữu linh. Hệ thống lý thuyết này tạo điểm tựa khoa học vững chắc giúp định vị chính xác vị thế của 10 tác phẩm khảo sát trong dòng chảy văn học dân tộc.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu phục vụ đề tài bao gồm 10 văn bản truyện thơ Nôm Tày tiêu biểu với quy mô hàng vạn câu thơ thất ngôn trường thiên, tiêu biểu như Tống Trân Cúc Hoa, Thạch Seng, Bjoóc Lả, Chiêu Đức, Nhân Lăng, Nho Hương, Lưu Đài Hán Xuân, Lưu Tương, Tống Kim và Lý Thế Khanh. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác lập gồm 10 tác phẩm cốt lõi được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích. Lý do chọn mẫu xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính đại diện trọn vẹn cho 3 giai đoạn phát triển của thể loại truyện thơ Tày, phản ánh chân thực các đề tài tình yêu lứa đôi, số phận người nghèo khổ và tinh thần đấu tranh vì chính nghĩa, đồng thời thể hiện rõ nét sự giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Kinh và Tày.

Tác giả vận dụng phối hợp 3 nhóm phương pháp phân tích khoa học: phương pháp thống kê và phân loại giúp định lượng tần suất xuất hiện của các yếu tố cảnh vật và loài vật trong 10 tác phẩm; phương pháp phân tích và tổng hợp giúp đi sâu giải mã nội dung tư tưởng cùng các thủ pháp nghệ thuật ước lệ tượng trưng; phương pháp so sánh đối chiếu văn học liên dân tộc nhằm khu biệt nét độc đáo của truyện thơ Tày so với truyện thơ Nôm Kinh. Quá trình nghiên cứu được triển khai nghiêm túc trong suốt 24 tháng, kế thừa chọn lọc từ hơn 40 công trình chuyên khảo uy tín để đưa ra những kết luận thuyết phục nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Qua quá trình khảo sát định lượng và định tính trên 10 tác phẩm truyện thơ Nôm Tày tiêu biểu, công trình đã làm sáng tỏ 4 phát hiện mang tính đột phá về cấu trúc thẩm mỹ của thể loại:

Thứ nhất, thiên nhiên miền núi hiện diện với tần suất tuyệt đối 100% trong toàn bộ 10 tác phẩm, đóng vai trò là không gian sinh tồn và phông nền nghệ thuật chủ đạo. Khác với cảnh sắc quy ước chốn thị thành, thiên nhiên ở đây là núi non trùng điệp, khe sâu mây phủ và rừng già bạt ngàn, định hình cách tư duy và lối ứng xử của nhân vật.

Thứ hai, thế giới sinh vật xuất hiện phong phú với 5 nhóm loài rõ rệt. Nhóm côn trùng hoa lá như ong bướm và nhóm chim muông đạt tỷ lệ xuất hiện 100% tại 10 trên 10 truyện; nhóm gia súc gắn liền với sản xuất nông nghiệp như trâu, bò, ngựa chiếm 80% tương đương 8 trên 10 truyện; nhóm thủy sinh như cá chép vượt vũ môn chiếm 60% với 6 trên 10 truyện; và các loài mang ý nghĩa linh vật thần kỳ như rồng chiếm 50% cùng loài cóc chiếm 40%.

Thứ ba, thiên nhiên là phương tiện nghệ thuật biểu đạt ngoại hình và tâm trạng nhân vật đạt hiệu ứng thẩm mỹ vượt trội. Khoảng 90% các trạng thái tâm lý băn khoăn, sầu tủi hay hoài niệm đều được khơi gợi qua tiếng chim khảm khắc lúc tàn canh, sương móc hay bão giông rung chuyển, tạo nên sự đồng điệu tâm hồn cao hơn 25% so với tính ước lệ khuôn sáo của văn học cung đình.

Thứ tư, vẻ đẹp con người miền núi được khắc họa trọn vẹn qua 3 phẩm chất then chốt: sức mạnh kiên cường vượt ngàn dặm gian lao, khát khao tự do yêu đương mãnh liệt chống lại lễ giáo phong kiến, và phẩm chất thủy chung vàng son của người phụ nữ vùng cao.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên nét độc đáo của thiên nhiên và con người trong truyện thơ Nôm Tày bắt nguồn từ môi trường địa văn hóa và thế giới quan vạn vật hữu linh của đồng bào bản địa. Người Tày cư trú ven các thung lũng, triền núi thấp, gắn bó mật thiết với rừng nương và sông suối qua phương thức canh tác lúa nước lâu đời. Do đó, thiên nhiên không đứng ngoài như một khách thể vô tri mà thẩm thấu trực tiếp vào tư duy nghệ thuật, trở thành người bạn tri âm và thước đo phẩm giá con người.

Khi so sánh với hệ thống 47 truyện thơ Tày được các nhà nghiên cứu sưu tầm, bao gồm 39 truyện sáng tác bản địa và 8 truyện tiếp thu từ nguồn Kinh cùng Trung Quốc, có thể thấy truyện thơ Nôm Tày lưu giữ tinh thần phản kháng dân gian mạnh mẽ hơn hẳn truyện thơ Nôm Kinh bác học. Tác phẩm không sa đà vào các giáo điều Nho giáo gò bó mà hướng tới tự do cá nhân và hạnh phúc trần thế. Toàn bộ dữ liệu khảo sát có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện tỷ lệ xuất hiện của các biểu tượng sinh thái gồm ong bướm 100%, chim chóc 100%, gia súc 80%, thủy sinh 60% và linh vật 50%, kết hợp với bảng ma trận đối chiếu 3 trục giá trị: thiên nhiên tả cảnh, thiên nhiên ngụ tình và thiên nhiên siêu nhiên trong mối tương quan với số phận con người miền núi.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy giá trị học thuật và thực tiễn của đề tài, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, số hóa và phiên âm chú giải toàn diện hệ thống văn bản. Mục tiêu đặt ra là hoàn thành số hóa 100% văn bản chữ Nôm cổ của 10 tác phẩm truyện thơ Nôm Tày cốt lõi, chuyển đổi thành cơ sở dữ liệu số song ngữ Tày - Quốc ngữ trong giai đoạn 2026-2028. Hoạt động này do Viện Nghiên cứu Hán Nôm chủ trì phối hợp cùng Đại học Thái Nguyên thực hiện.

Thứ hai, biên soạn và thẩm định tài liệu giáo dục địa phương. Mục tiêu là đưa 100% các trích đoạn văn học Nôm Tày đặc sắc vào chương trình Ngữ văn giáo dục địa phương tại hơn 30 trường trung học phổ thông thuộc 5 tỉnh Đông Bắc, hoàn thành trong năm học 2027-2028 dưới sự chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Hà Giang và Thái Nguyên.

Thứ ba, chuyển thể và truyền thông đa nền tảng các tác phẩm tiêu biểu. Mục tiêu là phục dựng tối thiểu 5 trích đoạn truyện thơ thành các hoạt cảnh sân khấu hóa hoặc làn điệu then lượn, hướng tới thu hút 50.000 lượt tiếp cận trên không gian số mỗi năm, triển khai định kỳ từ năm 2027 do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương phối hợp cùng các cơ quan truyền thông khu vực thực hiện.

Thứ tư, thành lập và nhân rộng không gian sinh hoạt văn hóa dân gian tại cơ sở. Mục tiêu là xây dựng tối thiểu 20 câu lạc bộ truyền dạy văn hóa chữ Nôm Tày và truyện thơ tại các bản làng truyền thống với sự tham gia thường xuyên của hơn 500 nghệ nhân và thanh thiếu niên trong giai đoạn 2026-2030, do Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam phối hợp với chính quyền địa phương tại 23 tỉnh thành có người Tày cư trú triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình là nguồn tài liệu hữu ích cho 4 nhóm đối tượng độc giả chuyên biệt:

Thứ nhất, giảng viên và nhà nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số: Luận văn cung cấp khung phân tích thi pháp học hoàn chỉnh cùng hệ thống dẫn chứng định lượng về 10 tác phẩm truyện thơ trung đại, hỗ trợ hiệu quả cho các công trình nghiên cứu so sánh văn học liên dân tộc.

Thứ hai, giáo viên môn Ngữ văn tại các trường phổ thông: Tài liệu là cẩm nang thực hành trực tiếp phục vụ biên soạn bài giảng phân môn Văn học địa phương từ lớp 8 đến lớp 12, cung cấp hơn 15 đoạn trích thơ giàu chất tạo hình để giảng dạy về văn hóa vùng cao.

Thứ ba, sinh viên và học viên cao học ngành Ngữ văn và Văn hóa học: Cung cấp phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa thống kê định lượng và phân tích biểu tượng thẩm mỹ, giúp định hướng phương pháp triển khai luận văn thạc sĩ trong thời hạn chuẩn 2 năm đào tạo.

Thứ tư, cán bộ quản lý văn hóa và chuyên viên bảo tồn di sản: Cung cấp cơ sở khoa học và số liệu thực chứng phục vụ xây dựng đề án quy hoạch, hồ sơ bảo tồn chữ Nôm Tày cùng các phong tục tập quán truyền thống tại 23 tỉnh thành trên toàn quốc.

Câu hỏi thường gặp

Chữ Nôm Tày và truyện thơ Nôm Tày có nguồn gốc lịch sử từ thời điểm nào?

Chữ Nôm Tày xuất hiện từ thế kỷ thứ V và hoàn thiện vào thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng từ năm 1592 đến 1677 nhờ Bế Văn Phủng và Nông Quỳnh Vân. Thể loại truyện thơ phát triển qua 3 giai đoạn từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX với gần 100 đầu truyện phản ánh chân thực đời sống người Tày.

Thiên nhiên trong truyện thơ Nôm Tày có nét gì khác biệt so với truyện Nôm Kinh?

Thiên nhiên Nôm Tày là núi non trùng điệp, suối sâu và sương tuyết, xuất hiện 100% trong các tác phẩm khảo sát thay vì khuôn sáo thị thành. Tiêu biểu trong truyện Nhân Lăng, hình ảnh ba ngày vượt ngàn rừng trăm núi đã phản ánh chân thực địa bàn cư trú tại 23 tỉnh thành cùng thế giới quan vạn vật hữu linh của đồng bào bản địa.

Những phẩm chất đặc trưng nào của con người miền núi được khắc họa nổi bật nhất?

Con người miền núi được khắc họa qua 3 vẻ đẹp chính: sức mạnh quật cường trước gian khó, đạo lý nhân ái và khát vọng tình yêu tự do. Điển hình như chàng Thạch Seng dũng cảm trừ yêu quái giữa rừng sâu trong truyện Thạch Seng, hay nàng Bjoóc Lả kiên quyết vượt qua lễ giáo hà khắc để bảo vệ hạnh phúc lứa đôi chân chính.

Ý nghĩa biểu tượng của các loài vật trong truyện thơ Nôm Tày được thể hiện ra sao?

Các loài vật mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc với 5 nhóm loài chính. Tiêu biểu là tiếng chim khảm khắc xuất hiện trong 2 truyện Chiêu Đức và Tống Trân Cúc Hoa thể hiện nỗi sầu nhớ người thân da diết lúc đêm tàn. Ngoài ra, hình tượng cá chép lý ngư vượt vũ môn tượng trưng cho ý chí học hành đỗ đạt của sĩ tử.

Đóng góp thực tiễn lớn nhất của luận văn này đối với giáo dục và cộng đồng là gì?

Luận văn hệ thống hóa tư liệu 10 tác phẩm truyện thơ, làm tài liệu tham khảo giảng dạy Văn học địa phương tại hơn 30 trường phổ thông miền núi. Đồng thời, nghiên cứu khẳng định vị thế chữ Nôm Tày - di sản duy nhất về chữ viết trong 19 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia được công nhận chính thức.

Kết luận

  • Luận văn thạc sĩ hoàn thành xuất sắc việc giải mã hệ thống hình tượng thiên nhiên và con người miền núi qua 10 truyện thơ Nôm Tày kinh điển của nền văn học trung đại Việt Nam.
  • Khẳng định chữ Nôm Tày là di sản chữ viết vô giá duy nhất trong 19 di sản phi vật thể quốc gia, phản ánh thế giới quan sinh thái nhân văn độc đáo của cộng đồng người Tày tại 23 tỉnh thành.
  • Cung cấp nguồn tư liệu giảng dạy văn học địa phương chuẩn xác cho hơn 30 trường phổ thông, kế thừa tinh hoa từ hơn 40 công trình lý luận phê bình uy tín.
  • Định hướng kế hoạch hành động giai đoạn 2026-2030 với 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm số hóa văn bản, sân khấu hóa nghệ thuật và đào tạo truyền dạy di sản trong cộng đồng.
  • Kêu gọi các nhà khoa học, cơ quan quản lý văn hóa và thế hệ trẻ chung tay hành động ngay hôm nay để gìn giữ, phát huy kho tàng gần 100 tác phẩm truyện thơ Nôm Tày trường tồn cùng văn hiến dân tộc.