phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung được triển khai trong 3 chương: Chƣơng 1: Khái quát về biểu tượng và văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Chƣơng 2: Biểu tượng thiên nhiên và các biến thể của nó trong văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Chƣơng 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng thiên nhiên trong văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. 8 NỘI DUNG Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ BIỂU TƢỢNG VÀ VĂN XUÔI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC 1.
Giới thuyết về biểu tƣợng 1. Khái niệm biểu tượng Văn học nghệ thuật nói riêng, các khoa học liên ngành khác như văn hóa, triết học, tâm lý học… nói chung đang có xu hướng chú trọng đến một loại phương tiện truyền đạt thông tin đặc biệt, đó là biểu tượng. Trong Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới, tác giả Jean Chevalier cho rằng: “Nói chúng ta sống trong một thế giới biểu tượng thì vẫn còn chưa đủ, phải nói một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta” [6; tr. Đi sâu vào khám phá biểu tượng, ta thấy đó là một thế giới đầy kì ảo, mê hoặc và luôn có sức hấp dẫn đặc biệt.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra nhằm lí giải về ý nghĩa của biểu tượng, mối quan hệ và vai trò của biểu tượng trong đời sống của con người. Vậy thế nào là biểu tượng? Từ xưa, khái niệm biểu tượng được dùng để chỉ một vật được cắt ra làm đôi, đó có thể là gỗ, mảnh sứ hay kim loại. Hai người, mỗi người giữ một phần (có thể là chủ - khách, người cho vay - kẻ đi vay, vợ - chồng. Sau này, khi người ta ráp hai mảnh lại với nhau, họ nhận ra mối thân tình xưa hoặc món nợ cũ, tình bạn ngày trước.
Biểu tượng chia ra và lại kết lại với nhau như vậy nên nó chứa hai ý tưởng phân ly và tái hợp. Có thể nói, mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ; ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa là gãy vỡ, vừa là nối kết những phần của nó. Chính điều này đã tạo nên tính biến ảo trong ý nghĩa của biểu tượng, khiến cho tư duy của ta luôn phải vận động truy tìm, liên tưởng để thấy được ý nghĩa sâu xa tiềm ẩn trong lòng nó. Sau này, khi khoa học về biểu tượng hình thành và phát triển, có rất nhiều quan điểm khác nhau đưa ra nhằm lí giải về ý nghĩa của biểu tượng và vai trò của nó trong đời sống con người.
Biểu tượng (symbol) là một thuật ngữ được nhiều ngành khoa học sử dụng với những tính chất, thuộc tính cơ bản khác nhau. Thuật ngữ symbol có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp là symbolon, tiếng Latin là symbolus/ symbolum, Pháp là symbole1. Theo Từ điển Latin của Charlton T.Lewis: “symbolus là kí hiệu hoặc phù hiệu mà nó mang lại một cái khác, nhằm để hiểu thấu những gì 9 đằng sau nó”.Liddell và Robert Scott: “symbolon có nghĩa là: Một kí hiệu hoặc dấu hiệu mà từ nó cho biết hoặc suy ra hàm ý một thứ khác”. Trong tiếng Hán: Biểu có nghĩa là: “bày ra”, “trình bày”, “dấu hiệu” để người ta dễ nhận biết một điều gì đó.
Tượng có nghĩa là “hình tượng”. Biểu tượng là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng. Bàn về biểu tượng còn có rất nhiều ý kiến. Mỗi nhà nghiên cứu có cách hiểu và diễn đạt khác nhau về biểu tượng.
Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới của Chevalier Jean, Gheerbrant Alain cho rằng “những gì được gọi là biểu tượng khi nó được một nhóm người đồng ý rằng nó có nhiều hơn một ý nghĩa là đại diện cho chính bản thân nó” [6; tr.Jung - nhà phân tâm học Thụy Sĩ trong cuốn Thăm dò tiềm thức đã viết: “Biểu tượng là một danh từ, một tên gọi hay một đồ vật tuy đã quen thuộc với ta hàng ngày, nhưng còn gợi thêm những ý nghĩa khác bổ sung vào ý nghĩa ước định, hiển nhiên và trực tiếp của nó”.Jung đã chú ý đến các phương tiện hình thành biểu tượng và những “ý nghĩa khác bổ sung vào”. Theo cách hiểu này, biểu tượng có thể xác định toàn bộ hiện thực trừu tượng, nằm ngoài tầm với của các giác quan trong hình thức một hình ảnh hay một vật thể. Khi bàn về biểu tượng, Henry Corbin cho rằng: “Biểu tượng báo hiệu một bình diện ý thức khác với cái hiển nhiên lý tính; nó là mật mã của một bí ẩn, là cách duy nhất để nói ra được cái không thể nắm bắt bằng cách nào khác; nó không bao giờ có thể được cắt nghĩa một lần là xong, mà cứ phải giải mã lại mãi, cũng giống như một bản nhạc không bao giờ chơi một lần là xong mà đòi hỏi một lối biểu diễn luôn luôn mới” [6; tr. Trong Ký hiệu học văn hóa, tác giả Iu.
Lotman khẳng định: “Biểu tượng được xác định như một ký hiệu, mà ý nghĩa của nó là một ký hiệu thuộc loại này hay loại khác… Hoặc biểu tượng là sự biểu đạt ký hiệu cho một bản chất phi ký hiệu cao nhất và trừu tượng”. Quan niệm về biểu tượng “phải xuất phát từ các quan niệm trực giác do kinh nghiệm văn hóa mang lại rồi cố gắng khái quát tiếp theo” [22; tr. Nói về biểu tượng, Friedch Hegel - nhà triết học người Đức cho rằng: “Biểu tượng là sự vật bên ngoài, một dẫn liệu trực tiếp nói thẳng với trực giác chúng ta. Tuy vậy, sự vật này không phải được lựa chọn và chấp nhận như nó tồn tại trong thực tế, vì bản thân nó.
Trái lại, nó được chấp nhận với một ý nghĩa rộng lớn hơn và khái quát hơn nhiều. Do đó, phải phân biệt trong biểu tượng hai yếu tố: “ý nghĩa và biểu hiện. 10 Ý nghĩa là sự gắn liền với một biểu tượng hay một số sự vật cho dù nội dung của biểu hiện này hay sự vật này là cái gì. Còn sự biểu hiện là một tồn tại cảm quan hay một hình ảnh nào đó” [12; tr.
Theo Từ điển Larousse: “Biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh, bằng con vật sống động hay bằng đồ vật, nó biểu hiện một điều trừu tượng, nó là hình ảnh cụ thể của một sự vật hay một điều gì đó”. Hoàng Phê cho rằng: Biểu tượng là “hình ảnh tượng trưng”, là “hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” (Từ điển tiếng Việt). Trần Đình Sử - Lê Bá Hán - Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học viết: “Biểu tượng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” [65; tr. Ở góc độ nhận thức của văn học cũng đòi hỏi tư duy và tính biểu tượng cao để cảm thụ và sáng tạo.
Khi đó, biểu tượng được coi như “một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lý sâu xa về con người, về cuộc đời” [65; tr. Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về biểu tượng nhưng dù được nghiên cứu ở bình diện nào, theo góc độ, quan điểm nào thì biểu tượng luôn được khẳng định là một phương tiện tạo hình và biểu đạt có tính đa nghĩa thể hiện dưới một dạng hình tượng cụ thể, cảm tính được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong tác phẩm và có giá trị biểu cảm cao. Biểu tượng trở thành một phần quan trọng không thể thiếu trong đời sống tinh thần nhân loại. Nó có mặt trong hầu hết biểu hiện của đời sống từ tôn giáo, nghệ thuật, chính trị, văn hóa - xã hội.
Biểu tượng vừa mang những đặc trưng văn hóa chung của từng nền văn minh, tôn giáo, vừa mang những sắc màu riêng của mỗi quốc gia, dân tộc. Nó khiến cho người ta dễ dàng hiểu được văn hóa của một dân tộc xa lạ một cách nhanh chóng, cũng có thể dễ dàng kết nối những nền văn hóa tưởng chừng khác xa nhau. Biểu tượng dưới góc độ văn hoá Văn hóa và văn học có mối quan hệ khăng khít, ràng buộc lẫn nhau trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi dân tộc. Claude Levy-Strauss sau khi nghiên cứu nhân loại học về các sự kiện văn hóa đã rút ra kết luận: “Mọi nền văn hóa đều có thể 11 xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng, trong đó xếp hàng đầu là ngữ ngôn, các quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo” [6; tr.
Có thể nói, văn học có khả năng truyền tải đặc trưng của văn hóa. Ngược lại, văn hóa có thể quyết định sự phát triển của văn học trong một giới hạn, một mức độ nhất định. Khi tìm hiểu về biểu tượng văn hóa trước hết ta phải hiểu thế nào là văn hóa. Theo Toàn thư quốc tế về phát triển văn hóa (International Thesaurus on Cultural Development) của tổ chức UNESCO: “Văn hóa là một tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định thể ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt”.
Khái niệm văn hóa trong Từ điển tiếng Việt được dùng với nghĩa thông dụng để chỉ học thức và lối sống. “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu của đời sống tinh thần (tổng quát); là những kiến thức, tri thức khoa học (nói khái quát); là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh; là nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau” [38; tr. Từ những định nghĩa trên, có thể thấy rằng: Văn hoá là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh của đời sống bao quanh con người, tồn tại hữu thức và cả vô thức trong mỗi chúng ta. Văn hóa do con người sáng tạo ra để phục vụ lợi ích của chính mình.