Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu khoa học được thực hiện dưới hình thức luận án tiến sĩ văn học với các thông tin định danh và thông số nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Tên đề tài: Tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sau 1986 từ góc nhìn văn hóa
  • Nghiên cứu sinh: Bế Thị Thu Huyền
  • Người hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Đăng Điệp
  • Cơ sở đào tạo: Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
  • Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
  • Mã số chuyên ngành: 9. 21
  • Năm hoàn thành bảo vệ: 2018

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau mốc lịch sử năm 1986, tiến trình Đổi mới của đất nước thúc đẩy văn học nghệ thuật phát triển, trong đó bộ phận văn học các dân tộc thiểu số (DTTS) đạt được những bước tiến rõ nét về số lượng lẫn chất lượng. Miền núi phía Bắc (MNPB) là khu vực văn hóa hội tụ nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số như Tày, Thái, Mông, Nùng, Dao, Mường, Giáy... với bản sắc văn hóa riêng biệt. Đời sống văn hóa, phong tục, tín ngưỡng và tâm thức của đồng bào in dấu sâu sắc vào sáng tác văn học của chính các nhà văn xuất thân từ các dân tộc này.

Về thể loại, MNPB là nơi ghi nhận sự ra đời của tác phẩm tiểu thuyết đầu tiên viết bằng tiếng Việt của tác giả người DTTS (Muối lên rừng của nhà văn dân tộc Tày Nông Minh Châu), đồng thời là địa bàn tập trung đội ngũ sáng tác tiểu thuyết đông đảo. Mặc dù văn xuôi miền núi đã nhận được sự quan tâm nhất định của giới phê bình, phần lớn các công trình trước đây chỉ dừng lại ở các bài viết tổng quát, nghiên cứu từng tác giả đơn lẻ (chủ yếu là tác giả người Tày), hoặc khảo sát bản sắc dân tộc trên bề mặt nội dung miêu tả. Chưa có công trình chuyên biệt nào khảo sát, hệ thống hóa và lý giải một cách toàn diện thể loại tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986 dưới góc nhìn văn hóa (GNVH) như một hệ thống liên ngành kết hợp nhân học văn hóa, ký hiệu học và thi pháp học văn hóa. Việc thực hiện đề tài này giải quyết khoảng trống học thuật về lý luận và thực tiễn tiếp cận thể loại tiểu thuyết của đồng bào thiểu số miền núi.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986 từ góc nhìn văn hóa nhằm chỉ ra cái nhìn riêng biệt và dấu ấn văn hóa tộc người trong tư duy nghệ thuật của các tác giả.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Nhiệm vụ thứ nhất: Phác thảo tình hình nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986, phác thảo lịch sử nghiên cứu văn học từ GNVH trong và ngoài nước, từ đó đưa ra đánh giá khách quan và xác lập hướng tiếp cận của đề tài.
  2. Nhiệm vụ thứ hai: Phân tích các tiền đề tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội khu vực MNPB; khảo sát chủ thể văn hóa (các cộng đồng DTTS MNPB) trên các bình diện vũ trụ quan, nhân sinh quan và căn tính văn hóa từ giác độ nhân học văn hóa; phác họa diện mạo tiểu thuyết của các tác giả DTTS MNPB sau 1986 để đánh giá sự phát triển của đội ngũ nhà văn.
  3. Nhiệm vụ thứ ba: Phác họa, mô tả và lý giải hệ thống biểu tượng trong tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986; phân tích ý nghĩa văn hóa của các biểu tượng gắn với truyền thống và đặc trưng văn hóa tộc người.
  4. Nhiệm vụ thứ tư: Nghiên cứu một số phương thức nghệ thuật biểu đạt văn hóa trong tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB: nghệ thuật sử dụng huyền thoại, nghệ thuật sử dụng các motif và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986; các điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội, văn hóa và chủ thể văn hóa (các tộc người thiểu số MNPB) với vai trò là tiền đề kiến tạo nội dung và ý nghĩa văn hóa trong tác phẩm.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian và chủ thể: Khu vực miền núi phía Bắc; đội ngũ nhà văn thuộc các dân tộc thiểu số tại khu vực này (Tày, Thái, Mường, Nùng, Giáy, Mông...).
    • Về thời gian: Các tác phẩm tiểu thuyết xuất bản từ sau năm 1986 đến thời điểm thực hiện luận án (2018).
    • Về tác phẩm: Luận án bao quát diện mạo chung nhưng tập trung đi sâu vào các tác phẩm tiêu biểu có giá trị nghệ thuật, khảo sát và phân tích tác phẩm dựa trên hệ quy chiếu văn hóa học.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết của các tác giả DTTS MNPB sau 1986

  1. Các nghiên cứu tổng quát:

    • Tập sách Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (NXB Văn hóa dân tộc, 1988) tập hợp các bài viết về 16 nhà văn, nhà thơ DTTS, bước đầu ghi nhận đóng góp của Nông Minh Châu, Triều Ân, Vi Hồng.
    • Các công trình chuyên luận của Lâm Tiến: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (1995), Về một mảng văn học dân tộc (1999), Văn học và miền núi (2002), Tiếp cận văn học dân tộc thiểu số (2011). Tác giả đã phân tích ảnh hưởng của văn học dân gian, chỉ ra sự phát triển cùng những hạn chế nghệ thuật của văn xuôi DTTS (cốt truyện đơn giản, nhân vật thiếu cá tính riêng, lạm dụng lối nói ví von làm chậm nhịp truyện).
    • Nhóm tác giả Trần Thị Việt Trung – Cao Thị Hảo trong cuốn Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại – Một số đặc điểm (NXB Đại học Thái Nguyên, 2011) đã khái quát tiến trình văn học DTTS, nghiên cứu mảng văn xuôi và phân tích lời văn nghệ thuật của Vi Hồng.
    • Các hội thảo khoa học chuyên đề: Hội thảo Văn học dân tộc thiểu số với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước trong thời kì đổi mới (Lạng Sơn, 2011); Hội thảo khoa học quốc gia Ngôn ngữ và văn học vùng Tây Bắc (Đại học Tây Bắc, 2014) với các tham luận của Nguyễn Thị Hải Anh, Nguyễn Thị Thu Hoài; Hội thảo toàn quốc Phát triển văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế (Viện Văn học, 2014).
  2. Nghiên cứu về các hiện tượng tác giả cụ thể:

    • Tác giả Vi Hồng: Nhận được nhiều sự quan tâm qua đề tài nghiên cứu của Phạm Mạnh Hùng, các bài viết của Dương Thuấn, Lâm Tiến; các phân tích chuyên sâu trong chuyên luận của Phạm Duy Nghĩa (Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi, 2012), Đào Thủy Nguyên – Dương Thu Hằng (Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam, 2014), cùng Hội thảo khoa học về Vi Hồng (Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên, 2006).
    • Các tác giả khác: Cao Duy Sơn qua các bài viết của Chu Thị Hằng (2008), Hứa Hiếu Lễ (2008), Đào Thủy Nguyên (2010), Hỏa Diệu Thúy (2012); Triều Ân qua kỷ yếu Triều Ân, tác giả, tác phẩm và dư luận (Hồng Thanh tuyển chọn, NXB Văn hóa dân tộc, 2009); Ma Trường Nguyên với tiểu luận Hiện đại mà dân tộc (NXB Hội nhà văn, 2009).
  3. Nghiên cứu từ giác độ văn hóa:

    • Chuyên luận Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam (Đào Thủy Nguyên chủ biên, Dương Thu Hằng, 2014) khảo sát bản sắc dân tộc trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật trong văn xuôi hiện đại.
    • Chuyên luận Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi (Phạm Duy Nghĩa, 2012) khảo sát các bình diện con người trong đời sống văn hóa và tương quan giữa văn hóa Hmông với văn hóa Tây Nguyên.
Hướng nghiên cứu trước đây Tác giả / Công trình tiêu biểu Trọng tâm phân tích
Nghiên cứu tổng quan văn xuôi DTTS Lâm Tiến (1995, 1999, 2002, 2011); Trần Thị Việt Trung – Cao Thị Hảo (2011) Tiến trình phát triển, tiếp thu chất liệu dân gian, hạn chế về cốt truyện và tư duy tiểu thuyết
Nghiên cứu tác giả tiêu biểu Phạm Mạnh Hùng (2006); Hồng Thanh (2009); Ma Trường Nguyên (2009); Đào Thủy Nguyên (2010) Khảo sát phong cách, ngôn ngữ, thế giới nhân vật của Vi Hồng, Cao Duy Sơn, Triều Ân
Nghiên cứu bản sắc văn hóa Phạm Duy Nghĩa (2012); Đào Thủy Nguyên – Dương Thu Hằng (2014) Biểu hiện của phong tục, tập quán, ngôn từ giàu hình ảnh trong văn xuôi miền núi

Tình hình nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa

  1. Trên thế giới:

    • Trường phái Văn hóa – lịch sử thế kỷ XIX tại Pháp với H. Taine: Xác lập ba nhân tố quy định sự xuất hiện của văn học gồm chủng tộc (tố chất di truyền, cấu trúc tinh thần tộc người), môi trường (địa lý, chính trị, xã hội, tôn giáo) và thời điểm (giai đoạn kế thừa và tích lũy lịch sử).
    • Huyền thoại học và Triết học biểu trưng thế kỷ XX: E. Cassirer (Tư duy huyền thoại, Triết học về các hình thức biểu trưng) xem văn hóa là hệ thống ký hiệu và văn học là sự biểu đạt các hình thức biểu trưng.
    • Ký hiệu học văn hóa: Iu. Lotman và trường phái Tartu – Moskva xác lập quan điểm xem văn bản văn học là một văn bản văn hóa, ký hiệu văn hóa chỉ có ý nghĩa khi nằm trong một chỉnh thể liên kết.
    • Phân tâm học và Tâm lý học phân tích: S. Freud xác lập khái niệm vô thức cá nhân; C.G. Jung mở rộng sang vô thức tập thể và hệ thống cổ mẫu (siêu mẫu, mẫu gốc) – những khuôn mẫu tâm thức lưu truyền qua các thế hệ được nghệ thuật làm sống lại.
    • Thi pháp học văn hóa: M. Bakhtin (Sáng tác của F. Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng, 1960) giải mã văn học thông qua tính chất đảo ngược của lễ hội hóa trang (carnival) và tính đối thoại của ngôn từ văn hóa.
    • Các trào lưu nghiên cứu văn hóa tại Anh (trường phái Birmingham – R. Hoggart), Đức (trường phái Frankfurt – D. Kellner), Pháp (R. Barthes), Bắc Mỹ và sự tiếp nhận tại Trung Quốc cuối thế kỷ XX (F. Jameson, Lý Âu Phạn, Uông Huy, Đào Đông Phong, Kim Nguyên Phủ, website culstudies.com).
  2. Tại Việt Nam:

    • Tiền đề từ phê bình truyền thống (Phạm Quý Thích, Trần Trọng Kim, Hoài Thanh) đến các công trình văn hóa học hiện đại: Đỗ Lai Thúy (Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực, 1992; Từ cái nhìn văn hóa; Phê bình văn học – con vật lưỡng thê ấy); Trần Nho Thìn (Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, 2003); Lê Nguyên Cẩn (Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa, 2011; Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa, 2014); Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Dân, Lã Nguyên, Trần Lê Bảo, Nguyễn Văn Hạnh, Cao Kim Lan, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thị Thanh Xuân, Đinh Hồng Hải.
    • Các luận án tiến sĩ vận dụng GNVH: Hoàng Thị Huế (2006), Ngô Minh Hiền (2008), Lương Minh Chung (2012), Đỗ Thị Ngọc Chi (2013), Nguyễn Thị Mai Hương (2014), Nguyễn Thị Thu Thủy (2017), Phùng Phương Nga (2018).

Khoảng trống và vị trí của luận án

Luận án phân biệt rõ hai khái niệm:

  • Nghiên cứu bản sắc dân tộc trong văn học: Mang tính chất tĩnh tại, chủ yếu mô tả các biểu hiện văn hóa sẵn có xuất hiện trong tác phẩm.
  • Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa: Mang tính chất động, sử dụng văn hóa như một hệ quy chiếu và công cụ liên ngành để soi chiếu, lý giải nguồn gốc tư duy nghệ thuật, giải mã các mã văn hóa và thông điệp ẩn sâu trong văn bản tác phẩm.

Luận án xác định vị trí là công trình đầu tiên khảo sát một cách toàn diện, chuyên sâu và có hệ thống thể loại tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986 dưới góc nhìn văn hóa, thông qua hệ thống biểu tượng và các phương thức nghệ thuật biểu đạt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Lý thuyết địa văn hóa và nhân học văn hóa: Vận dụng luận điểm của H. Taine về mối quan hệ giữa môi trường địa lý, lịch sử và cấu trúc tinh thần tộc người để khảo sát không gian sinh tồn của các dân tộc thiểu số MNPB. Khảo sát chủ thể văn hóa qua các khái niệm vũ trụ quan (nhận thức về thế giới tự nhiên và thần linh), nhân sinh quan (quan niệm về vòng đời, luân hồi, dòng tộc, đạo đức) và căn tính văn hóa (tâm lý, tính cách cố hữu của từng tộc người).
  • Lý thuyết biểu tượng và ký hiệu học văn hóa: Dựa trên quan điểm của E. Cassirer, Iu. Lotman, C.G. Jung, xem tác phẩm văn học là một văn bản văn hóa chứa đựng các ký hiệu, cổ mẫu và biểu tượng nghệ thuật.
  • Thi pháp học văn hóa: Tiếp thu quan điểm của M. Bakhtin và Lê Nguyên Cẩn về mã văn hóa, tính đối thoại của ngôn từ, cấu trúc huyền thoại và motif nghệ thuật.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  1. Phương pháp liên ngành văn hóa học (Phương pháp chủ đạo): Vận dụng kiến thức tổng hợp từ nhân loại học, triết học, tôn giáo học, phân tâm học, ngôn ngữ học và lịch sử để giải thích văn học qua các mã văn hóa và truyền thống tập quán; kết hợp đọc liên văn bản và phân tích diễn ngôn.
  2. Phương pháp hệ thống: Đặt thể loại tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986 trong một chỉnh thể thống nhất giữa môi trường tự nhiên, lịch sử xã hội, chủ thể sáng tạo và cấu trúc văn bản nghệ thuật.
  3. Phương pháp so sánh: So sánh sắc thái văn hóa trong tiểu thuyết giữa các tộc người khác nhau (Tày, Thái, Mường, Nùng, Giáy, Mông, Dao); so sánh giai đoạn sau 1986 với giai đoạn trước 1986; so sánh văn học MNPB với văn học DTTS ở các vùng miền khác như Tây Nguyên.
  4. Phương pháp thống kê – phân loại: Phân loại, thống kê hệ thống tác giả, tác phẩm, hệ thống biểu tượng và motif nghệ thuật nhằm cung cấp cơ sở tư liệu cho các luận điểm.
  5. Tiếp cận thi pháp học: Phân tích các phương thức cấu trúc tác phẩm, nghệ thuật sử dụng huyền thoại, motif cốt truyện và phương thức tổ chức ngôn từ nghệ thuật.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Toàn bộ các tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu của các nhà văn DTTS MNPB sau năm 1986 (các tác phẩm của Vi Hồng, Cao Duy Sơn, Triều Ân, Ma Trường Nguyên, Nông Minh Châu, Lù Dín Siềng, Địch Ngọc Lân, Hà Trung Nghĩa, Vương Trung, Cầm Hùng, Thái Tâm, Hoàng Luận, Hữu Tiến, Hoàng Quảng Uyên, Chu Thanh Hương, Mã Anh Lâm...).
  • Các tư liệu khảo cứu về văn hóa dân gian, phong tục tập quán, lễ hội, tôn giáo, tín ngưỡng và văn học dân gian của các dân tộc Tày, Thái, Nùng, Mường, Dao, Mông, Giáy, Lô Lô tại khu vực MNPB.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Chương 1 thực hiện nhiệm vụ tổng thuật lịch sử nghiên cứu theo hai trục nội dung chính:

  • Trục thứ nhất: Khảo cứu toàn diện các công trình nghiên cứu về văn xuôi và tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986. Tác giả phân tích các kết quả đạt được từ các công trình nghiên cứu tổng quát, các chuyên luận về tác giả tiêu biểu (Vi Hồng, Cao Duy Sơn, Triều Ân, Ma Trường Nguyên) và các công trình bước đầu nghiên cứu bản sắc dân tộc.
  • Trục thứ hai: Tổng quan lịch sử hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa trên thế giới (từ trường phái văn hóa - lịch sử của H. Taine, triết học biểu trưng của E. Cassirer, ký hiệu học của Iu. Lotman, phân tâm học của S. Freud và C.G. Jung, đến thi pháp học văn hóa của M. Bakhtin) và tiến trình phát triển của hướng nghiên cứu này tại Việt Nam.
  • Xác lập hướng đi của đề tài: Phân định sự khác biệt giữa nghiên cứu bản sắc dân tộc và nghiên cứu từ GNVH, xác định khoảng trống học thuật và xây dựng khung lý thuyết liên ngành làm điểm tựa cho các chương tiếp theo.

Chương 2. Những tiền đề tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội và diện mạo tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sau 1986

Chương 2 tập trung phân tích bối cảnh không gian và chủ thể văn hóa, làm tiền đề lý giải diện mạo tiểu thuyết:

  1. Tiền đề tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội:

    • MNPB là vùng địa văn hóa đặc trưng với địa hình chia cắt, hiểm trở nhưng giàu tài nguyên thiên nhiên. Môi trường sống cộng cư lâu đời tạo ra sự giao lưu, tiếp biến văn hóa liên tục giữa các tộc người (như cộng đồng người Giáy sống xen kẽ, giao lưu với người Tày, Nùng, Thái; các tộc người nhỏ tiếp nhận ngôn ngữ phổ biến của vùng như tiếng Tày ở vùng Đông Bắc hay tiếng Thái ở vùng Tây Bắc).
    • Lối sống của các tộc người miền núi có sự phóng khoáng, trọng tình cảm và hiếu khách. Quá trình tiếp biến văn hóa diễn ra theo nguyên tắc hòa nhập nhưng không hòa tan, mỗi cộng đồng đều duy trì bản sắc riêng.
  2. Chủ thể văn hóa của khu vực MNPB:

    • Vũ trụ quan: Chi phối bởi tín ngưỡng vạn vật hữu linh và đa thần giáo nguyên thủy. Người Thái thờ thần rừng, thờ thuồng luồng (văng) qua lễ cúng băng mương. Người Mường thờ thần Tản Viên (Bua Tản), thờ cây đa, cây si, cây gạo, hòn đá lạ và lập bàn thờ thần đất. Người Tày thờ Thổ công (Cốc bản) và các vị thánh (thấn). Người Nùng thờ thần Thổ địa bảo vệ thôn bản. Người Mông xem rừng và đá là nơi trú ngụ của thần linh, có tập quán cắm que "đỡ hồn cho đá". Hệ thống nghi lễ mùa màng phản ánh sự tôn trọng tự nhiên: hội lồng tồng, hội Hai (người Tày); xên bản, xên mường (người Thái); Gầu Tào, cúng rừng Nào Xồng (người Mông); lễ cầu mưa (người Lô Lô).
    • Nhân sinh quan: Tồn tại quan niệm luân hồi, nhân quả và cấu trúc đa tầng của vũ trụ. Người Thái quan niệm thế giới 5 tầng; người Giáy quan niệm 3 miền thế giới; người Mường quan niệm 3 tầng 4 thế giới (mường trời, Mường Pưa, Mường Pưa tín, mường Vua khú); người Mông quan niệm chết là sự chuyển kiếp trở về với tổ tiên. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giữ vị trí trung tâm: người Tày và Nùng thờ tổ tiên nội tộc; người Thái và Mường thờ cả tổ tiên bên nội và bên ngoại; người Dao thờ 5 đời trực hệ; người Mông đặt bàn thờ tại gian giữa. Tín ngưỡng vật tổ (totem) tồn tại qua tục thờ Bàn Vương của người Dao, tục thờ cóc và kiêng ăn thịt rùa của người Mường.
    • Căn tính văn hóa:
      • Dân tộc Tày: Tự tôn sâu sắc, giàu nội lực ("Tự đục đá kê cao quê hương"), tư duy lý tính, bộc trực, chuộng sự phân minh.
      • Dân tộc Thái: Nền văn hóa mang tính khép kín, âm tính, lối sống trọng tình cảm, đề cao vai trò phụ nữ.
      • Dân tộc Mường: Tư duy thực tế, gói gọn trong phương châm "Ăn cốt tươi, chơi cốt thật".
      • Dân tộc Giáy: Mang ẩn ức về thân phận lép vế qua thần thoại nguồn gốc loài người (Giáy hí hanh - Giáy mùn thớt).
      • Dân tộc Mông và Dao: Mang tâm thức thiên di, mặc cảm mồ côi và lưu vong do lịch sử di chuyển tìm đất sống; từ đó hình thành tinh thần đoàn kết dòng họ, bản lĩnh kiên cường, ý chí tự chủ và khát vọng tự do.
Dân tộc Vũ trụ quan & Tín ngưỡng tiêu biểu Nhân sinh quan & Thờ cúng Căn tính văn hóa đặc trưng
Tày Thờ Thổ công (Cốc bản), các vị thánh (thấn); lễ hội lồng tồng, hội Hai Thờ tổ tiên họ nội tại gian trung tâm; đề cao quan hệ dòng tộc Lòng tự tôn sâu sắc, tư duy lý tính, bộc trực, yêu ghét phân minh
Thái Thờ thần rừng, thần nước thuồng luồng (văng); lễ xên bản, xên mường Quan niệm thế giới 5 tầng; thờ tổ tiên cả họ nội (trong nhà) và ngoại (ngoài cổng) Văn hóa âm tính, lối sống trọng tình, hướng nội, đề cao phụ nữ
Mường Thờ thần Tản Viên (Bua Tản), thần đất, đá lạ, cây si; thờ Cóc, kiêng ăn rùa Quan niệm 3 tầng 4 thế giới; thờ tổ tiên nội ở gian khách, ngoại ở cạnh bếp Quan niệm sống thực tế ("Ăn cốt tươi, chơi cốt thật")
Nùng Thờ thần Thổ địa cai quản bản mường, thờ ma rừng, ma núi Thờ tổ tiên 7 đời (thờ cúng 3 đời gần, đời xa thành phj slườn); tinh thần gia tộc cao Thật thà, gắn kết dòng họ bền chặt
Mông Thờ ma đá, ma rừng, ma cây; tục "đỡ hồn cho đá"; lễ hội Gầu Tào, Nào Xồng Quan niệm vòng đời luân hồi; bàn thờ đặt ở vách tường gian giữa Mặc cảm thiên di, phức cảm mồ côi; ý chí tự chủ, khí phách mạnh mẽ, yêu tự do
Dao Tín ngưỡng thờ Bàn Vương (Bàn Hồ, chẩu đàng); tục tạc chó đá Thờ tổ tiên 5 đời trực hệ như thần bản mệnh; luật tục dòng họ nghiêm ngặt Ký ức thiên di gian khổ; ý chí sinh tồn, cố kết cộng đồng cao
Giáy Quan niệm 3 miền thế giới (trời, giữa, thấp); giao lưu văn hóa đa dạng Đưa hồn về tổ tiên sau 3 năm đoạn tang Ẩn ức thân phận lép vế qua huyền thoại cội nguồn (Giáy hí hanh)
  1. Diện mạo tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986:
    • Luận án điểm lại dấu mốc xuất hiện của thể loại tiểu thuyết với tác phẩm Muối lên rừng (1964) của Nông Minh Châu và các tác phẩm đầu thập niên 1980 của Vi Hồng (Đất bằng - 1980, Núi cỏ yêu thương - 1984, Thung lũng đá rơi - 1985).
    • Sau năm 1986, đội ngũ sáng tác mở rộng với nhiều tác giả thuộc các dân tộc khác nhau: Vi Hồng, Triều Ân, Ma Trường Nguyên, Hoàng Luận, Hữu Tiến, Hoàng Quảng Uyên, Cao Duy Sơn, Chu Thanh Hương (dân tộc Tày); Vương Trung, Cầm Hùng, Thái Tâm (dân tộc Thái); Hà Trung Nghĩa (dân tộc Mường); Địch Ngọc Lân (dân tộc Nùng); Lù Dín Siềng (dân tộc Giáy); Mã Anh Lâm (dân tộc Mông)... Sự trưởng thành này đánh dấu bước tiến về số lượng và chất lượng nghệ thuật của tiểu thuyết DTTS.

Chương 3. Hệ biểu tượng trong tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sau 1986

Chương 3 triển khai khảo sát và giải mã hệ thống biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa:

  • Giới thuyết về biểu tượng: Trình bày cơ sở lý luận về biểu tượng trong sáng tạo nghệ thuật, mối liên hệ giữa biểu tượng với ký hiệu học văn hóa và cổ mẫu tâm thức tộc người.
  • Hệ biểu tượng về thiên nhiên: Khảo sát các hình tượng thiên nhiên đặc trưng của miền núi (núi đá, rừng già, dòng sông, con suối, cây cối, hang động, các loài vật linh thiêng). Thiên nhiên không chỉ là bối cảnh mà là một thực thể sống mang tính thiêng, phản ánh vũ trụ quan vạn vật hữu linh và sự gắn kết sinh tồn giữa con người với môi trường sống.
  • Hệ biểu tượng về con người: Phân tích các kiểu mẫu nhân vật mang tính biểu tượng cho phẩm chất, cốt cách và số phận của con người miền núi (người già am hiểu luật tục, người phụ nữ giàu đức hy sinh, chàng trai dũng cảm, người mồ côi giàu nghị lực). Các biểu tượng con người thể hiện sâu sắc căn tính tộc người và quan niệm nhân sinh truyền thống.
  • Hệ biểu tượng về văn hóa xã hội: Giải mã các biểu tượng vật chất và tinh thần trong đời sống cộng đồng (ngôi nhà sàn, bếp lửa, trang phục thổ cẩm, cây khèn, ché rượu cần, các lễ hội dân gian và luật tục bản làng). Đây là các chỉ dấu văn hóa giúp khu biệt bản sắc của từng tộc người trong không gian đa văn hóa MNPB.

Chương 4. Một số phương thức biểu đạt văn hóa trong tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sau 1986

Chương 4 phân tích các thủ pháp nghệ thuật thể hiện chiều sâu văn hóa trong tác phẩm:

  • Nghệ thuật sử dụng huyền thoại: Khảo sát cách thức các nhà văn vận dụng thần thoại, truyền thuyết, cổ tích và các câu chuyện tâm linh dân gian vào kết cấu tiểu thuyết. Huyền thoại hóa hiện thực giúp tác phẩm tái hiện đời sống tâm linh, tín ngưỡng nguyên thủy và tạo chiều sâu hư ảo cho cốt truyện.
  • Nghệ thuật sử dụng các motif: Phân tích các motif nghệ thuật lặp lại mang tính cổ mẫu bắt nguồn từ văn hóa dân gian (motif thiên di, motif đứa trẻ mồ côi, motif thử thách - vượt thoát, motif trả ơn - báo oán, motif hóa thân). Các motif này vừa đóng vai trò liên kết cốt truyện, vừa chuyển tải nhân sinh quan và ước mơ công lý của cộng đồng.
  • Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ: Khảo sát cách khai thác ngôn ngữ dân tộc, đưa tiếng mẹ đẻ vào tác phẩm; nghệ thuật sử dụng lối nói ví von, so sánh cụ thể, giàu hình ảnh gắn liền với tư duy trực giác, cảm tính của người miền núi; việc vận dụng tục ngữ, thành ngữ, dân ca dân gian để kiến tạo lời văn nghệ thuật mang đậm phong vị bản địa.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận

  • Luận án hệ thống hóa các quan điểm nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa của các trường phái học thuật trên thế giới và ở Việt Nam; xác lập một khung lý thuyết liên ngành rõ ràng kết hợp giữa nhân học văn hóa, ký hiệu học văn hóa và thi pháp học văn hóa.
  • Luận án góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa tộc người, môi trường địa văn hóa với tư duy sáng tạo thể loại tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số.

Đóng góp mới về thực tiễn

  • Đây là công trình đầu tiên khảo sát một cách toàn diện, có hệ thống về thể loại tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau năm 1986 từ góc nhìn văn hóa.
  • Khảo sát, miêu tả và giải mã hệ thống biểu tượng (thiên nhiên, con người, văn hóa xã hội) trong tiểu thuyết, làm rõ ý nghĩa văn hóa gắn liền với bản sắc từng tộc người cụ thể (Tày, Thái, Nùng, Mường, Mông, Dao, Giáy).
  • Chỉ ra các phương thức nghệ thuật đặc thù biểu đạt văn hóa (huyền thoại, motif dân gian, ngôn ngữ nghệ thuật giàu hình ảnh) của các nhà văn DTTS MNPB thời kỳ Đổi mới.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Tăng cường công tác nghiên cứu, sưu tầm và giảng dạy văn học các dân tộc thiểu số tại các trường đại học, cao đẳng, đặc biệt là các trường thuộc khu vực miền núi phía Bắc, nhằm giáo dục ý thức giữ gìn cội nguồn văn hóa cho thế hệ trẻ.
  • Cần có chính sách đầu tư, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ sáng tác trẻ người dân tộc thiểu số nhằm duy trì sự kế thừa liên tục, tránh nguy cơ mai một bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
  • Khuyến khích các nhà văn DTTS nâng cao kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại, mở rộng vốn từ tiếng Việt song song với việc giữ gìn chất liệu văn hóa truyền thống để tránh lối viết mòn sáo hoặc đơn điệu về kết cấu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Do số lượng tác phẩm tiểu thuyết của các tác giả DTTS MNPB khá phong phú, luận án tập trung chủ yếu vào các tác phẩm có chất lượng nghệ thuật cao và tiêu biểu của một số dân tộc có đội ngũ tác giả đông đảo (như Tày, Thái, Nùng), chưa bao quát đồng đều tất cả các sáng tác của các tác giả thuộc các dân tộc ít người hơn.
  • Luận án tiếp cận đối tượng thuần túy dưới hệ quy chiếu văn hóa học và thi pháp học văn hóa, không đặt mục tiêu giải quyết toàn diện mọi vấn đề thi pháp thể loại hoặc các khía cạnh kinh tế - xã hội ngoài phạm vi văn bản văn hóa.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi khảo sát từ thể loại tiểu thuyết sang các thể loại khác như truyện ngắn, trường ca, thơ hiện đại của các tác giả DTTS MNPB dưới góc nhìn văn hóa.
  • Thực hiện các nghiên cứu so sánh đối sánh văn hóa học giữa văn học các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc với văn học các dân tộc thiểu số khu vực Tây Nguyên hoặc Nam Trung Bộ.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Giảng viên, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Văn hóa học, Nhân học văn hóa và Văn hóa các dân tộc thiểu số.
    • Các nhà nghiên cứu phê bình văn học, các cơ quan quản lý văn hóa - nghệ thuật, các Hội Văn học Nghệ thuật các DTTS Việt Nam.
  • Nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
    • Phần tổng thuật lý thuyết tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa (Chương 1) cung cấp cơ sở phương pháp luận liên ngành hữu ích cho các nghiên cứu văn học hiện đại.
    • Phần khảo sát nhân học văn hóa về vũ trụ quan, nhân sinh quan, căn tính văn hóa các tộc người Tày, Thái, Mường, Nùng, Dao, Mông, Giáy (Chương 2) là nguồn tư liệu phong phú cho nghiên cứu văn hóa dân gian và văn học miền núi.
    • Các phân tích giải mã biểu tượng và phương thức nghệ thuật (Chương 3 và Chương 4) là tài liệu tham khảo trực tiếp cho công tác giảng dạy tác phẩm văn học dân tộc thiểu số trong chương trình đại học.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt giữa nghiên cứu bản sắc dân tộc trong văn học và nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa như thế nào?

Luận án chỉ ra rằng nghiên cứu bản sắc dân tộc mang tính chất tĩnh tại, chủ yếu dừng lại ở việc miêu tả những biểu hiện phong tục, tập quán, nếp sống có sẵn trong tác phẩm. Ngược lại, nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa mang tính chất động, sử dụng văn hóa như một công cụ liên ngành để cắt nghĩa nguồn gốc tư duy nghệ thuật, xem văn bản văn học là một văn bản văn hóa sống động và giải mã những thông điệp ẩn sâu dưới cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm.

2. Tác phẩm nào đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên của thể loại tiểu thuyết trong văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam?

Tác phẩm đầu tiên thuộc thể loại tiểu thuyết của đồng bào các DTTS là cuốn Muối lên rừng (xuất bản năm 1964) của nhà văn người dân tộc Tày Nông Minh Châu. Đây là tác phẩm đánh dấu cột mốc hoàn thiện về mặt thể loại trong tiến trình phát triển của nền văn học các DTTS Việt Nam.

3. Vũ trụ quan của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc có những nét đặc trưng gì?

Vũ trụ quan của đồng bào chi phối bởi quan niệm "vạn vật hữu linh" và tín ngưỡng đa thần. Thiên nhiên được thần thiêng hóa với các vị thần cai quản như thần núi, thần rừng, thần sông, thần đá. Điển hình như người Thái có tục thờ thần rừng và thần nước thuồng luồng (văng); người Mường thờ thần Tản Viên (Bua Tản), thờ cây đa, cây si, hòn đá lạ; người Tày thờ Thổ công (Cốc bản); người Nùng thờ thần Thổ địa; người Mông có tập tục thờ thần đá và nghi thức cắm que "đỡ hồn cho đá".

4. Căn tính văn hóa của các dân tộc Tày, Thái, Mường, Giáy, Mông và Dao có sự khác biệt ra sao?

  • Người Tày: Nặng về tư duy lý tính, tinh thần tự tôn sâu sắc ("Tự đục đá kê cao quê hương"), bộc trực, yêu ghét rõ ràng.
  • Người Thái: Văn hóa âm tính, khép kín, hướng nội, lối sống trọng tình cảm và đề cao vị trí phụ nữ.
  • Người Mường: Lối sống thực tế, thể hiện qua quan niệm "Ăn cốt tươi, chơi cốt thật".
  • Người Giáy: Mang ẩn ức về thân phận lép vế qua thần thoại nguồn gốc loài người (Giáy hí hanh - Giáy mùn thớt).
  • Người Mông và Dao: Mang mặc cảm thiên di, phức cảm mồ côi và tâm thức lưu vong do lịch sử di chuyển tìm đất sống; từ đó hình thành tinh thần cố kết dòng họ, bản lĩnh kiên cường, ý chí tự chủ và khát vọng tự do.

5. Các phương thức biểu đạt văn hóa chủ yếu trong tiểu thuyết DTTS MNPB sau 1986 gồm những hình thức nào?

Luận án xác định ba phương thức nghệ thuật chính: (1) Nghệ thuật sử dụng huyền thoại (vận dụng thần thoại, truyền thuyết, tín ngưỡng dân gian để tạo không gian tâm linh và chiều sâu huyền ảo); (2) Nghệ thuật sử dụng các motif dân gian (các motif thiên di, mồ côi, thử thách, hóa thân để tổ chức cốt truyện); (3) Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ (khai thác tiếng dân tộc, lối nói giàu hình ảnh, lối so sánh cụ thể và vận dụng tục ngữ, thành ngữ dân gian).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Bế Thị Thu Huyền là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về thể loại tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sau năm 1986 dưới góc nhìn văn hóa. Bằng việc thiết lập khung lý thuyết liên ngành kết hợp giữa văn hóa học, nhân học văn hóa, ký hiệu học và thi pháp học văn hóa, luận án đã phân tích sâu sắc các tiền đề địa văn hóa, chủ thể văn hóa cùng hệ thống biểu tượng và phương thức biểu đạt nghệ thuật đặc thù của tác phẩm. Công trình khẳng định bước trưởng thành về tư duy thể loại của đội ngũ nhà văn miền núi, đồng thời đóng góp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học và bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam.