Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận các vấn đề nghiên cứu 1. Các khái niệm liên quan đến biến đổi khí hậu Khái niệm về BĐKH. Được hiểu là "sự thay đổi của khí hậu theo thời gian do thay đổi về tự nhiên hoặc kết quả hoạt động của con người".
Với định nghĩa này, nguyên nhân của BĐKH là do chính bản thân của điều kiện tự nhiên, nội tại của nó hoặc là do bên ngoài tác động vào (theo báo cáo của IPCC, 2007); "BĐKH là những ảnh hưởng có hại của khí hậu, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của hệ sinh thái tự nhiên hoặc đến hoạt động hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người", (Theo Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH, 2015). Định nghĩa chung nhất cho sự biến đổi khí hậu là "sự thay đổi các đặc điểm mang tính thống kê của hệ thống khí hậu, khi xét đến những chu kỳ dài hàng thập kỷ hoặc lâu hơn, mà không kể đến các nguyên nhân theo đó, những thay đổi bất thường trên những chu kỳ ngắn hơn một vài thập kỷ, như El Nino, không thể hiện sự thay đổi khí hậu". Thuật ngữ này đôi khi được sử dụng để nhắc đến những trường hợp đặc biệt của biến đổi khí hậu do tác động của hoạt động con người". Định nghĩa biến đổi khí hậu là "sự thay đổi của khí hậu mà hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp do tác động của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài." Trong định nghĩa cuối thay đổi khí hậu đồng nghĩa với ấm lên toàn cầu,(Theo Công ước khung của Liên hiệp quốc về BĐKH, 2003).
download by : skknchat@gmail. Thích ứng với biến đổi khí hậu 1. Khái niệm thích ứng với biến đổi khí hậu. Khí hậu đã và đang biến đổi và có những tác động tiềm tàng, bất lợi đến phát triển, vì thế sự thích ứng trở nên ngày càng quan trọng.
Thích ứng là một khái niệm rất rộng và khi áp dụng vào lĩnh vực BĐKH nó dùng trong rất nhiều trường hợp, với nghiên cứu của (Burton, 1998), cho rằng sự thích ứng với khí hậu là một quá trình qua đó con người làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khoẻ, đời sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại. “Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh của các hệ thống tự nhiên hoặc con người để phản ứng lại với các kích thích khí hậu thực tế, dự kiến hoặc tác động của chúng, mà tránh được các thiệt hại hoặc tận dụng các cơ hội có lợi. Nhiều loại hình thích ứng có thể được phân biệt, bao gồm thích ứng mang tính dự báo, tự động và có kế hoạch” (IPCC, 2007). (Theo OECD-DAC, 2011), thích ứng đề cập tới những phản ứng của các cá nhân, các nhóm và các Chính phủ đối với BĐKH và những ảnh hưởng của BĐKH.
Thích ứng được định nghĩa là những hành động “làm giảm sự tổn thương của con người cũng như các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái do con người tạo ra trước các tác động của BĐKH, đồng thời giảm những nguy cơ rủi ro có liên quan đến BĐKH, thông qua việc duy trì hoặc tăng cường khả năng thích nghi và phục hồi của các hệ thống”. Là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (Viện Khoa học KTTV và Môi trường, 2011). Trong nghiên cứu này, thích ứng là các điều chỉnh trong cộng đồng và cá nhân hoặc những điều chỉnh dựa trên cộng đồng để thích ứng những thay đổi của khí hậu theo thời gian. Đó là kinh nghiệm thực tiễn đã và đang được người dân áp dụng trong điều kiện hiện tại chính cộng đồng đó.
download by : skknchat@gmail. Những thích ứng trong sản xuất Nông nghiệp + Thích nghi trong chọn giống. Việc có được giống tốt thích nghi với điều kiện của vùng là yếu tố quan trọng, quyết định đến năng suất, chất lượng cũng như khả năng chống chịu với những thay đổi của các tác nhân từ bên ngoài. Vì vậy trong bối cảnh diễn biến của BĐKH, thích nghi trên phương diện chọn giống tốt là điều kiện đảm bảo năng suất và chất lượng của nông sản (theo trung tâm nghiên cứu Nông lâm nghiệp miền núi, 2014), như vậy, để thích nghi với BĐKH trong hoạt động sản xuất nông nghiệp chúng ta cần lựa chọn những giống có khả năng thích nghi trước tác động của BĐKH.
Đặc biệt là những giống có nguồn gốc bản địa, đã trải qua một thời gian dài chuyển đổi để thích nghi trong những điều kiện sản xuất khó khăn. Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu thích nghi với BĐKH trong lĩnh vực giống cây trồng và vật nuôi cần phải nghiên cứu từng loại giống thích nghi trong mỗi vùng và điều kiện cụ thể. + Thích nghi phương thức sản xuất. Bao gồm thay đổi cơ cấu cây trồng trên một đơn vị diện tích hay liên kết các loại cây trồng và vật nuôi trong một hệ thống sản xuất.Việc thay thế phương thức sản xuất độc canh bằng các phương thức kết hợp nhiều cây, con, thay đổi phương thức sản xuất,từ việc chú trọng vào đầu tư phân bón và kỹ thuật công nghệ cao bằng các kiến thức bản địa thích hợp trong điều kiện BĐKH, đặc biệt là đối với nông dân có điều kiện kinh tế thấp.
Để thích nghi với các BĐKH các vùng khác nhau, phải có cách bảo tồn trong nông nghiệp, chất hữu cơ trong đất và đối phó với các rủi ro trong sản xuất. Vì vậy việc luân canh cây trồng; mô hình nông, lâm kết hợp; hệ thống cây trồng bậc thang và các hệ thống canh tác kết hợp khai thác đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều vùng được xem là thích nghi trong phương thức sản xuất, theo trung tâm nghiên cứu Nông, lâm nghiệp miền núi (ADC, 2014). download by : skknchat@gmail.com 9 + Thời vụ Thời vụ sản xuất của hệ thống cây trồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố thời tiết khí hậu vì vậy hệ thống thông tin dự báo các điều kiện thời tiết và khí hậu liên quan đến BĐKH là cần thiết để xác định thời vụ thích hợp cho mỗi loại cây trồng. Vì vậy cách tiếp cận kết hợp giữa khoa học khí tượng/khí hậu và khoa học cây trồngvật nuôi xuất hiện là cách duy nhất để thích nghi với BĐKH trong tương lai, Theo trung tâm nghiên cứu Nông lâm nghiệp miền núi (ADC, 2014).
+ Kỹ thuật canh tác Chấp nhận đổi mới kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp là một trong những chủ trương trong chiến lược thích ứng với BĐKH đề cập đến nhiều nhất. Thích nghi trong lĩnh vực này tập trung vào những đặc điểm của hệ thống sản xuất, đặc tính của người sản xuất để xác định được mức độ ảnh hưởng của các quyết định của họ để đưa ra các lựa chọn thích nghi, theo trung tâm nghiên cứu Nông lâm nghiệp miền núi (ADC, 2014). Thích nghi trong lĩnh vực kỹ thuật canh tác rất phong phú và đa dạng tùy thuộc vào loại BĐKH, điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên của vùng cũng như nhận thức của người dân, điều này được thể hiện rõ thông qua kiến thức bản địa. "Kiến thức bản địa là cái cơ bản nhất để đưa ra các quy định ở cấp độ địa phương trong nhiều cộng đồng nông thôn.
Nó không chỉ có giá trị văn hóa mà còn là cơ sở cho các nhà khoa học và các nhà lập kế hoạch để cải thiện các điều kiện ở cộng đồng nông thôn. Kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức bản địa trong các chính sách cho BĐKH có thể dẫn đến phát triển hiệu quả, sự tham gia của cộng đồng và đạt được tính bền vững", (theo tác giả FredericoMayor, 2003). Khái niệm về kiến thức bản địa và sử dụng kiến thức bản địa, hay tri thức bản địa trong thích ứng với biến đổi khí hậu Tri thức bản địa có tầm quan trọng lớn trong việc thực hiện các dự án phát triển mang tính bền vững cho nên không những chỉ các nước đang phát triển download by : skknchat@gmail.com 10 mà các nước có nền khoa học phát triển cao cũng rất chú ý sưu tầm, phân tích và ứng dụng tri thức bản địa, nhằm tìm kiếm những giải pháp quản lý bền vững cổ truyền cũng như giá trị của các tài nguyên mà khoa học hiện đại chưa biết tới. (Trong cẩm nang về tri thức bản địa được NXB nông nghiệp ấn hành năm, 2000) đưa ra khái niệm.
"Tri thức bản địa hay KTBĐ là kiến thức mà người dân ở một cộng đồng đã tạo nên và đang phát triển dần theo thời gian”, (Theo định nghĩa của tổ chức UNESCO), cho rằng "Kiến thức bản địa dùng để chỉ những thành phần, kiến thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại và gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên đó là một phần của tổng hòa văn hóa, tập hợp những hiểu biết, kiến thức bao gồm hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các hoạt động sản xuất, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan. những kiến thức này là cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương đoạn cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương, như săn bắn hái lượm, đánh cá, canh tác và chăn nuôi, sản xuất lương thực. để thích nghi với sự thay đổi của môi trường và xã hội". Theo Tác giả FredericoMayor (2003), đã định nghĩa kiến thức bản địa như sau: "Dựa vào hàng thế kỷ sống gần gũi với thiên nhiên các dân tộc bản địa trên thế giới sở hữu những kho tàng tri thức khống lồ về môi trường.
Sống trong tự nhiên và lớn lên cùng với sự giàu có và đa dạng của hệ sinh thái phức tạp, họ có sự hiểu biết về những đặc tính của cây cối và động vật, các chức năng của hệ sinh thái và những kỹ thuật sử dụng và quản lý chúng một cách đặc thù và phù hợp". "Tri thức bản địa là tri thức được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội; được lưu truyền từ đời này qua đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội.