Chương 1: Tổng quan về thích ứng bản địa trong quy hoạch và kiến trúc đô thị nghỉ dưỡng. - Chương 2: Cơ sở khoa học về thích ứng bản địa trong quy hoạch và kiến trúc đô thị Sa Pa. - Chương 3: Nhận diện và giải pháp trong quy hoạch, kiến trúc đô thị Sa Pa thích ứng bản địa. Các khái niệm và giải thích thuật ngữ sử dụng trong luận án Thích ứng: là quá trình thay đổi cho phù hợp với nhiều điều kiện khác nhau, chủ động thay đổi linh hoạt để đối phó với điều kiện tồn tại mới.
Thích ứng là sự điều chỉnh các hệ thống của tự nhiên hoặc con người để đáp ứng với các điều kiện hiện tại hoặc tương lai với mục đích giảm tải các tác hại và khai thác những cơ hội có lợi. Thích ứng có thể mang tính cá nhân hay của cộng đồng, thích ứng mang tính tự chủ và thích ứng có kế hoạch (IPCC TAR 2001) [97]. Kiến trúc thích ứng: Kiến trúc thích ứng là kiến trúc được thiết kế để đối phó với những thay đổi về công năng và môi trường xung quanh, cả môi trường bên ngoài và môi trường bên trong. Bản địa: Bản có nghĩa là gốc, căn bản, gốc rễ.
Địa có nghĩa là đất. Bản địa có nghĩa là vùng đất. Ngoài ra chữ bản địa theo tiếng La tinh còn có nghĩa là nhà, là thiên nhiên và bản xứ [26]. Yếu tố bản địa: Là những yếu tố gốc rễ, đặc trưng của một vùng đất có liên quan tới môi trường địa lý và cảnh quan, được tạo nên bởi cộng đồng dân cư [26].
Thích ứng bản địa: Thời gian sẽ hình thành nên những dấu ấn mới trong cộng đồng để thích ứng với môi trường “bản địa” hay hiểu là thích ứng bản địa, biến những dạng thức quen thuộc từ trước để phù hợp với điều kiện mới. Kiến trúc bản địa: Có thể hiểu là một nền kiến trúc dựa trên những đặc điểm tiềm năng và vật liệu truyền thống của địa phương, một kiểu kiến trúc mà bản thân địa phương đó tạo nên. Kiến trúc bản địa sử dụng các kỹ thuật và các quy trình xây dựng của địa phương, tạo ra các kiểu kiến trúc đặc trưng của khu vực mà chúng bị hạn chế. Có thể nói tất cả kiến trúc bản địa luôn là kiến trúc truyền thống và cũng có thể bao gồm một phần của kiến trúc đại chúng thông thường bởi tính bản địa luôn phát triển cùng thời gian.
“Kiến trúc bản địa” trong luận án được hiểu theo khái niệm của Việt Nam [6]: Chỉ nền kiến trúc truyền thống của người Việt, kiểu kiến trúc mà bản thân địa phương xây dựng nên. Kiến trúc bản địa không phải là kiến trúc của một thời điểm xác định nào đó, cũng không phải là một sản phẩm vật chất mà là một quá trình văn hóa. Sa Pa có một quá trình biến đổi từ đó tạo nên đặc trưng. “Xu hướng bảo tồn và phát huy kiến trúc bản địa” chính là làm sống lại những nét văn hóa mang tính truyền thống, bản sắc dân tộc, góp phần tạo nên sự đa dạng và khác biệt của kiến trúc giữa các quốc gia, dân tộc và vùng miền [6]”.
Văn hóa bản địa: là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần của một cộng đồng, một địa phương, khu vực, vùng miền sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Đặc trưng của văn hóa bản địa là bản sắc văn hóa của địa phương ấy [26]. Cảnh quan bản địa: Là cảnh quan nông thôn, làng bản có các yếu tố thiên nhiên và nhân tạo tham gia vào việc hình thành cảnh quan giống như cảnh quan đô thị nhưng với mức độ nhân tạo ít hơn. Bản sắc: Là các hoạt động sáng tạo có tính chất tốt đẹp tạo nên tính đặc thù nói chung của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại của một cộng đồng, một vùng đất.
Qua hàng thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành hệ thống giá trị, truyền thống, thị hiếu, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó mỗi dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình (UNESCO). Bản sắc là nét riêng và bản sắc có thể thay đổi [26]. Bản sắc là yếu tố bản địa của Sa Pa, bao gồm hệ thống những giá trị văn hóa đặc trưng của cộng đồng các dân tộc sinh sống trong khu vực, được hình thành và khẳng định trong suốt quá trình phát triển có thể nhận định qua hai dạng: - Bản sắc văn hóa: Là đặc điểm chung nhất, cơ bản nhất của một nền văn hóa. - Bản sắc của địa điểm (Identity của place): Là yếu tố gốc có đặc điểm nổi trội và đặc sắc, thể hiện rõ ràng giúp chúng ta có thể nhận biết được địa điểm này với địa điểm khác [9].
Đô thị: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn [43]. Kiến trúc đô thị: Là tổ hợp các vật thể trong đô thị, bao gồm các công trình kiến trúc (nhà ở, công cộng, nghỉ dưỡng) và các công trình kỹ thuật, nghệ thuật (tượng đài. mà sự tồn tại, hình ảnh, kiểu dáng của chúng chi phối hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan đô thị [43]. Quỹ kiến trúc đô thị: Là toàn bộ khối lượng vật chất và kỹ thuật cấu thành nên cơ thể đô thị, có giá trị nhiều hoặc thậm chí không có giá trị [1].
Du lịch đô thị: là một tập hợp các hoạt động được kết nối với nhau trong một bối cảnh nhất định (đặc biệt) và tạo điều kiện để thành phố thu hút khách du lịch. Định nghĩa này không hoàn toàn dựa trên góc độ sản phẩm du lịch tại các đô thị nổi tiếng như Paris, London, New York [29]. Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) nhận định: Du lịch đô thị thường gắn liền với thị trường đi nghỉ ngắn ngày [101]. Thích ứng bản địa trong quy hoạch và kiến trúc: Thích ứng bản địa là quá trình tìm hiểu điều kiện tự nhiên, đặc điểm văn hóa và vận dụng kỹ thuật, kinh nghiệm địa phương kết hợp với các phương thức can thiệp mới để giải quyết các vấn đề, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng địa phương.
Thích ứng bản địa được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có quy hoạch và kiến trúc. Thời gian sẽ hình thành nên những dấu ấn mới trong cộng đồng để thích ứng với môi trường “bản địa” hay hiểu là thích ứng bản địa, biến những dạng thức quen thuộc từ trước để phù hợp với điều kiện mới. Những dấu ấn mới trong quy hoạch và kiến trúc sẽ là những đặc điểm, tính chất tiêu biểu và đặc trưng cho phong cách riêng của QH và KT đô thị đó về điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội bản địa và về phương pháp kỹ thuật xây dựng, sử dụng vật liệu. TỔNG QUANVỀ THÍCH ỨNG BẢNĐỊATRONG QUY HOẠCH VÀ KIẾNTRÚCĐÔ THỊ NGHỈ DƯỠNG 1.
Tổng quan về thích ứng bản địa trong quy hoạch và kiến trúc một số đô thị du lịch nghỉ dưỡng trên thế giới. Kháiquátvềthíchứngbảnđịatrongquyhoạchvàkiếntrúc Nhữngđôthịcó yếu tố bảnđịalànhững đô thịcóý nghĩa sinhthái và có bảnsắc vănhóadân tộc đặctrưng. Để phát triển đô thị đó cần phải xem xét tổng thể giữa nhận thức của cộng đồng bản địa và mối quan hệ tương hỗ giữacác yếutốbảnđịavàsựpháttriểnđôthị. Quyhoạch và kiến trúc đô thị chịu ảnh hưởng của cả những tác động mang tính tiêu cực và tích cực từ các yếu tố bản địa.
Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố bản địa như văn hóa, xã hội, kinh tế, môi trường. tới QH và KT củađôthịsẽchothấyđượcmứcđộthíchứngcủađôthịđóvớicác yếutốbảnđịa. Các hoạt động trong quy hoạch và kiến trúc đô thị nhằm tạo ra môi trường sống cho cộng đồng chính là việc con người đang tác động tới các yếu tố môi trường và cảnh quan thiên nhiên, tới văn hóa, tôn giáo. đó là tác động tới những yếu tố bản địa.
Kiến trúc bản địa hình thành từ nhu cầu của xã hội, được định hình theo thời gian là quá trình tìm hiểu điều kiện tự nhiên, đặc điểm văn hóa và vận dụng những kỹ thuật, kinh nghiệm địa phương kết hợpvớicácphươngthứccanthiệpmớiđểgiảiquyếtcácvấnđềnhằmđápứngnhucầuxãhộiđó. Bảnchấtcủathíchứngbảnđịatrongquyhoạchvàkiếntrúc Để QH và KT thích ứng được với các yếu tố bản địa haybản chất của thích ứng bản địa chính là việc con người cần giảm thiểu các tác động của hoạt động QH và KT tới yếu tố bản địa, hay nói cách khác tác động của các hoạt động QH và KT phải là nhỏ nhất và kiểm soát được, từ đó mới đảm bảo sự phát triển có bản sắc và phát triển bềnvữngchođôthịđólà[17]: - Cầntôntrọngtốiđahiệntrạngthiênnhiênvàđịahình. - Cầntậndụngtốiđahướngnắng,giótốt. Trongthiếtkếkiếntrúccần: - Tôntrọngđịahìnhvàmôitrườngtựnhiên - Tiếtkiệmnănglượngđểứngphóvớibiếnđổikhíhậu - Sửdụngcôngnghệvàvậtliệuđịaphương,vậtliệucóthểtáitạo - Kiếntrúcxanhvàxâydựngbềnvững.
Nhưng theo A.Rappaport, House Form and Culture, 1969, “ Môi trường tự nhiên cho chúng ta nhiều khả năng để lựa chọn và con người quyết định chọn cho mình cái phù hợp nhất với nền tảng văn hóa của họ”. Do vậy, thích ứng bản địa trong quy hoạch và kiến trúc chính là việc hình thành nên những dấu ấn mới trong quy hoạch và kiến trúc qua quá trình tìm hiểu tự nhiên, đặc điểm văn hóa và vận dụng kỹ thuật kinh nghiệm địa phương kết hợp cácphương thức canthiệp. Những hoạtđộng đó cầntôntrọngtốiđađiều kiện tự nhiên,địa hình và dựavào nềntảng vănhóacủacộngđồngkhuvựcđó. Thíchứngbảnđịatrongquy hoạchvàkiếntrúcmộtsốđôthịdulịch,nghỉdưỡngtrênthếgiới 1.
Grindelwald-Thụysỹ Grindelwald thuộc Interlaken - Oberhasli, Bern, Thụy Sĩ là đô thị nghỉ mát đầu tiên và lâu đời nhất của Thụy Sĩ nói riêng và Châu Âu nói chung. Grindelwald có diện tích 171,33 km2 trong đó 28,9% được sử dụng cho mục đích nông nghiệp, 16,4% diện tích rừng, 1,8% diện tích công trình dân dụng và hệ thống giao thông, 0,8% diện tích sông hồ và 52,1% là đất không sản xuất. Ngành du lịch bắt đầu ở Grindelwald vào cuối thế kỷ18 đầu thế kỷ19, do người Anh đến định cư và phát triển. Đến nay du lịch nghỉ dưỡng là nguồn thu nhập chính cho nền kinh tế của Grindelwald [88], [99].
Việc mở rộng và phát triển bền vững đô thị du lịch Grindelwal đã sử dụng sự tiếp cận đa ngànhvàtổnghợpđôthịở3mứcđộ: - Tổnghợpcácvấnđềcủaquátrìnhpháttriểncácdựántrongkhuvực - Tổnghợp,địnhhướngcácvấnđềvềpháttriểndulịch,lâmnghiệpvàbảovệmôitrườngtựnhiên. - Tổnghợpcụthểcácvấnđềcủađôthịmiềnnúi. Từ sự tổng hợp đó, Grindelwald đã nhận thấy rằng, một nền nông nghiệp phát triển lành mạnh sẽ là biện phápbảovệtự nhiêntốtnhất,pháttriểnđôthịthíchứngbảnđịalàviệckếtnốitựnhiênvớidulịch.Vớiđịnhhướngđó nênđôthịGrindewalđãlàmộtđiểmdulịchnổibậtcủaThụySĩ. - Cầntuânthủkiểudáng,vàphongcáchkiếntrúcThụySĩtruyềnthốngđểphùhợpvớiđịahìnhvàcảnh quan.
- Hạnchếônhiễmmôitrường,khôngkhísạch,địađiểmxanhbềnvững;Sửdụnggiaothôngcông cộng:xeđiện,xetưnhân,xebuýt,tàuđiện. - Sửdụngmáingói,khôngsửdụngmáitôn,nhàlửngthấptầng.Chấtlượngnguồnnướcuốngsạchgần nhưdạngtinhthể. - Tổchứcquyhoạchnhiềucôngviên,quảngtrường,khônggianxanh;Yêucầukiếntrúckháchsạnmới cầnphảikếthợpkiếntrúctruyềnthống. Nguồn:Shutterstock,David-Beltra-Tejero Hình1.1:ĐôthịdulịchGrindelwal-ThụySĩ 1.
Aspen-Colorado-Mỹ Aspenlàđịađiểmdulịchđượcdukhách yêuthíchvàlàđôthịđôngdânnhấtcủahạtPitkin,Colorado,Mỹ vớidânsố6.400mso vớimựcnướcbiển,thànhphốAspencótổngdiệntích9,1km²,khíhậulụcđịaẩmvớicácdântộcthiểusố,chủyếulà ngườiTâyBanNha.Cuối thếkỷ20,Aspenlàđôthịdulịchnghỉdưỡngnổitiếng vớicáctrungtâmvănhóa vàđược gọi là ngôi nhà của lễ hội âm nhạc Aspen [95]. Aspen có cộng đồng dân tộc đa dạng, có tính lịch sử, với nền kinh tế năng động và cảnh thiên nhiên độc đáo.