Luận văn Thạc sĩ: Thế chấp tài sản để bảo đảm khoản vay theo BLDS 2015

Tải luận văn thạc sĩ phân tích toàn diện quy định về thế chấp tài sản bảo đảm khoản vay tại tổ chức tín dụng theo Bộ luật Dân sự 2015.

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

80
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của thế chấp tài sản bảo đảm khoản vay

Thế chấp tài sản là một loại giao dịch bảo đảm quan trọng trong hoạt động của tổ chức tín dụng (TCTD). Theo Bộ luật dân sự năm 2015, thế chấp tài sản để bảo đảm khoản vay được định nghĩa là hình thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua việc chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho bên nhận bảo đảm. Tài sản thế chấp phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp và phải xác định được rõ ràng. Giao dịch thế chấp tài sản có những đặc điểm riêng biệt: tài sản vẫn nằm trong tay bên thế chấp, không chuyển giao vật lý như cầm cố, nhưng quyền sử dụng bị hạn chế. Giao dịch này tạo ra hiệu lực pháp lý giữa các bên và đối kháng với bên thứ ba khi được đăng ký theo quy định.

1.1. Phân biệt giữa thế chấp tài sản và cầm cố

Cầm cốthế chấp là hai loại bảo đảm khác nhau. Trong cầm cố, bên cầm giữ quyền chiếm hữu tài sản, tài sản được chuyển giao vật lý. Ngược lại, thế chấp tài sản bảo đảm khoản vay tại TCTD cho phép bên thế chấp vẫn sử dụng tài sản, chỉ hạn chế quyền định đoạt. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp cần sử dụng tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh.

1.2. Tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai

Theo quy định pháp luật, tài sản thế chấp có thể là tài sản hiện có tại thời điểm xác lập hợp đồng hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Đối với tài sản thế chấp bảo đảm khoản vay tại tổ chức tín dụng, việc thế chấp tài sản tương lai giúp doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn vốn. Tuy nhiên, cần xác định rõ ràng tài sản hình thành trong tương lai để đảm bảo tính hợp pháp.

II. Quản lý và bảo vệ tài sản thế chấp tại tổ chức tín dụng

Quản lý tài sản thế chấp là trách nhiệm quan trọng của tổ chức tín dụng trong suốt thời gian thực hiện giao dịch bảo đảm khoản vay. TCTD phải thực hiện kiểm tra định kỳ, cung cấp thông tin về tài sản bảo đảm và xử lý các trường hợp tài sản giảm giá. Việc hoàn thiện hồ sơ pháp lý về tài sản thế chấp đảm bảo tính hợp pháp của giao dịch. Quản lý rủi ro pháp lý gắn với thế chấp hàng hóa luân chuyển cần được chú ý đặc biệt, nhất là đối với các tài sản có tính chất thay đổi. Đăng ký thế chấp theo quy định pháp luật là bước quan trọng để giao dịch thế chấp tài sản có hiệu lực đối kháng với bên thứ ba.

2.1. Cung cấp thông tin và kiểm tra tài sản

Tổ chức tín dụng có nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ về tài sản bảo đảm cho bên thế chấp. Việc kiểm tra tài sản thế chấp định kỳ giúp TCTD nắm bắt tình trạng tài sản bảo đảm khoản vay, đánh giá giá trị thực tế và phát hiện các rủi ro tiềm ẩn. Quá trình này bảo vệ lợi ích của cả hai bên trong giao dịch.

2.2. Xử lý biến động giá trị tài sản

Khi tài sản thế chấp giảm giá, TCTD phải thông báo cho bên thế chấp và yêu cầu bổ sung tài sản bảo đảm. Việc quản lý rủi ro này đảm bảo giao dịch thế chấp tài sản bảo đảm khoản vay vẫn an toàn. Các quy định về tài sản bảo đảm phải được tuân thủ nghiêm chặt để hạn chế tổn thất.

III. Xử lý tài sản thế chấp khi vi phạm nghĩa vụ

Xử lý tài sản thế chấp là bước quan trọng khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Theo Bộ luật dân sự năm 2015, tài sản bảo đảm khoản vay có thể được xử lý thông qua nhiều phương thức: bán đấu giá tài sản, bán tài sản thế chấp do TCTD tự thực hiện, hoặc nhận chính tài sản để thay thế cho việc thanh toán nợ. Giao dịch thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng thường sử dụng bán đấu giá để đảm bảo tính công bằng. Định giá tài sản bảo đảm phải được thực hiện bởi các bên độc lập, chuyên nghiệp. Thứ tự ưu tiên thanh toán được quy định rõ ràng để bảo vệ quyền lợi của TCTD và các chủ nợ khác.

3.1. Các phương thức xử lý tài sản

Bán đấu giá tài sản là phương thức phổ biến nhất, đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong giao dịch thế chấp tài sản. TCTD có thể tự bán tài sản thế chấp nếu được sự đồng ý của bên vay. Phương thức nhận chính tài sản bảo đảm giúp giải quyết nhanh chóng nhưng cần thẩm định giá trị chính xác để công bằng cho cả hai bên.

3.2. Định giá và thứ tự thanh toán

Định giá tài sản bảo đảm là khâu then chốt trong xử lý tài sản thế chấp bảo đảm khoản vay. Giá trị được xác định phải phản ánh thực tế tài sản, sử dụng các phương pháp đánh giá chuyên nghiệp. Thứ tự ưu tiên thanh toán trong giao dịch bảo đảm được quy định theo pháp luật để đảm bảo công bằng cho các chủ nợ.

IV. Thực tiễn áp dụng và hoàn thiện pháp luật

Thực tiễn áp dụng các quy định về thế chấp tài sản bảo đảm khoản vay tại tổ chức tín dụng Việt Nam cho thấy cả những thành công và những tồn tại. Các TCTD đã thiết lập được các quy trình quản lý tài sản bảo đảm khá hoàn chỉnh, tuy nhiên vẫn còn những rủi ro về mặt pháp lý. Giao dịch thế chấp tài sản cần được hoàn thiện trong các lĩnh vực: cải thiện quy trình đăng ký thế chấp, xác định rõ ràng tài sản thế chấp, và xử lý kịp thời các tranh chấp. Bộ luật dân sự năm 2015 cung cấp nền tảng pháp lý vững chắc, nhưng cần hướng dẫn chi tiết hơn trong thực thi. Việc nâng cao nhận thức của các bên về bảo đảm khoản vay là cần thiết để giảm thiểu rủi ro.

4.1. Những thách thức trong thực tiễn

Tài sản bảo đảm khoản vay tại TCTD đôi khi gặp vấn đề về xác định, nhất là tài sản hình thành trong tương lai. Xử lý tài sản thế chấp khi có tranh chấp thường kéo dài, ảnh hưởng lợi ích của tổ chức tín dụng. Các quy định pháp luật về giao dịch thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay cần được làm rõ hơn để giảm bất cập.

4.2. Giải pháp hoàn thiện

Cần hoàn thiện quy trình đăng ký thế chấp, tạo cơ sở dữ liệu thống nhất về tài sản bảo đảm. Giao dịch thế chấp tài sản bảo đảm khoản vay tại TCTD sẽ hiệu quả hơn khi có hướng dẫn chi tiết từ các cơ quan quản lý. Đào tạo chuyên sâu cho cán bộ tổ chức tín dụng về quản lý rủi ro pháp lý là giải pháp quan trọng.

21/12/2025
Luận văn thạc sĩ thế chấp tài sản để bảo đảm khoản vay tại tổ chức tín dụng theo bộ luật dân sự năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, Luận văn sẽ làm rõ khái niệm tài sản thế chấp; phân biệt về cầm cố và thế chấp tài sản; tài sản thế chấp; nghĩa vụ được bảo đảm; hiệu lực giữa các bên và hiệu lực đối kháng với bên thứ ba. Khái niệm thế chấp tài sản Thế chấp là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo quy định tại khoản 1, Điều 317, Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 (“Bộ luật dân sự”) thì “thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”. Như vậy:  Thế chấp không dẫn tới việc giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp.

Tài sản thế chấp do bên thế chấp hoặc một bên thứ ba giữ (khoản 2, Điều 317, Bộ luật dân sự). Do đó, bên thế chấp có quyền “khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng là tài sản thế chấp theo thỏa thuận” (khoản 1, Điều 321, Bộ luật dân sự) và “đầu tư để làm tăng giá trị của tài sản thế chấp” (khoản 2, Điều 321, Bộ luật dân sự).  Việc bên thế chấp không giao tài sản cho bên nhận thế chấp là một ưu điểm của biện pháp bảo đảm này vì nó phù hợp với mong muốn của bên thế chấp là vẫn tiếp tục được sử dụng, khai thác tài sản trong thời hạn thế chấp. Chẳng hạn trong trường hợp bên thế chấp thế chấp một ngôi nhà cho bên nhận thế chấp thì bên thế chấp vẫn có quyền sử dụng ngôi nhà đó để ở hoặc cho thuê.

Nếu tài sản thế chấp là nhà xưởng, máy móc thì bên thế chấp vẫn được khai thác sử dụng chúng trong thời hạn thế chấp.  Thế chấp tài sản phù hợp với cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình (quyền tài sản). Đối với các quyền tài sản, do đặc điểm của chúng là các tài sản không thể nắm giữ hay chuyển giao về mặt vật chất nên chỉ có thể thế chấp 8 vốn không đặt ra yêu cầu chuyển giao tài sản cho bên nhận bảo đảm (khoản 1, Điều 317, Bộ luật dân sự) mới có thể áp dụng được cho quyền tài sản.  Nghĩa vụ được bảo đảm không nhất thiết phải là nghĩa vụ của bên thế chấp.

Bởi vì trong định nghĩa trên chỉ nói là thế chấp tài sản để “bảo đảm thực hiện nghĩa vụ” chứ không chỉ nhất thiết phải là nghĩa vụ của bên thế chấp. Ví dụ: Trong trường hợp ông A đi vay vốn ngân hàng thì ông A có thể dùng tài sản của mình để thế chấp với ngân hàng hoặc ông B có thể dùng tài sản của mình để thế chấp nhằm bảo đảm khoản vay của ông A1.  Tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp. Phân biệt về cầm cố và thế chấp tài sản Điều 309, Bộ luật dân sự định nghĩa: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”.

Khác với thế chấp tài sản, cầm cố tài sản đặt ra yêu cầu là phải chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố. Bên cầm cố phải giao tài sản cho bên nhận cầm cố do đó không được quyền khai thác sử dụng trong thời gian cầm cố. Khoản 1, Điều 313, 1 Đối với bảo đảm bằng tài sản của người thứ ba, bên bảo đảm không cam kết trả nợ thay cho bên vay mà đơn thuần chỉ trao cho ngân hàng quyền đối với một trong các tài sản của mình mà thôi. Trong trường hợp bên vay không trả nợ dẫn tới việc xử lý tài sản bảo đảm thì bên bảo đảm có hai sự lựa chọn là trả số tiền được bảo đảm để rút lại tài sản bảo đảm hoặc là từ bỏ tài sản bảo đảm để cho ngân hàng xử lý thu hồi nợ.

Trong trường hợp thứ nhất, bên bảo đảm sẽ phải trả một khoản tiền tương đương với giá trị của (phần) khoản vay mà mình bảo đảm; còn trong trường hợp thứ hai, nếu giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn số tiền được bảo đảm thì ngân hàng chỉ có thể thu được số tiền tương đương với giá trị của tài sản bảo đảm mà thôi và sẽ trở thành chủ nợ không có bảo đảm của bên vay đối với phần khoản vay chưa được thanh toán nếu không có các biện pháp bảo đảm hiệu quả khác đối với khoản vay này. Xem thêm Bùi Đức Giang, “Huy động vốn từ nguồn tài sản bảo đảm của doanh nghiệp: từ quy định pháp luật đến thực tiễn”, Tạp chí Ngân hàng, số 20, tháng 10 năm 2018, trang 20 và 21. 9 Bộ luật dân sự quy định bên nhận cầm cố phải bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố, đó cũng là điều mà cả hai bên đều không mong muốn. Do đó, cầm cố không được sử dụng phổ biến như thế chấp mà chỉ áp dụng cho một số ít tài sản như: hàng hóa, vàng, ngoại tệ là tiền mặt.

Đặc điểm tài sản thế chấp 1. Tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai Căn cứ vào thời điểm hình thành và thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với tài sản tại thời điểm giao kết hợp đồng thế chấp; Điều 108, Bộ luật dân sự, quy định tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai được phân biệt như sau: “1. Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm: a) Tài sản chưa hình thành; b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch”.

Từ định nghĩa trên có thể thấy tài sản hình thành trong tương lai có thể là tài sản còn chưa tồn tại về mặt vật chất hoặc là tài sản chưa thuộc sở hữu của bên thế chấp tại thời điểm xác lập giao dịch thế chấp. Theo quy định tại khoản 3, Điều 295, Bộ luật dân sự, thì tài sản thế chấp có thể là tài sản hình thành trong tương lai. Theo quy định tại khoản 1, Điều 295 và Điều 317, Bộ luật dân sự, tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp. Rõ ràng là tại thời điểm xác lập hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, bên thế chấp vẫn chưa xác lập (được) quyền sở hữu của mình đối với tài sản này.

Về điểm này, theo quy định tại khoản 1, Điều 319, Bộ luật dân sự, “hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Áp dụng vào trường hợp thế chấp tài sản hình 10 thành trong tương lai, để dung hòa với yêu cầu về việc tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp có thể lập luận rằng biện pháp bảo đảm này chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, tức là thời điểm tài sản thế chấp đã hình thành và/hoặc bên thế chấp đã xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thế chấp (Bùi Đức Giang 2018, tr. Đối với tài sản hiện có thì quy định nêu trên của Bộ luật dân sự khá rõ ràng, theo đó tài sản thế chấp hiện có là tài sản đã hình thành và bên thế chấp đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập hợp đồng thế chấp. Tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp Khoản 1, Điều 295, Bộ luật dân sự đặt ra yêu cầu “tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu”.

Đọc kết hợp quy định với Điều 317, Bộ luật dân sự có thể thấy bên thế chấp chỉ được thế chấp tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Nguyên tắc này phù hợp với quy định tại Điều 195, Bộ luật dân sự theo đó “người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo uỷ quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật”. Trong biện pháp bảo lưu quyền sở hữu2, nghĩa vụ được bảo đảm là nghĩa vụ thanh toán số tiền mà bên mua còn chưa trả cho bên bán theo hợp đồng mua bán và bên bảo đảm là bên mua trong khi bên nhận bảo đảm là bên bán. Do bên bán vẫn có quyền sở hữu tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ nên khi xác lập biện pháp bảo lưu quyền sở hữu, tài sản bảo đảm chưa thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm.

Một câu hỏi đặt ra là có thể nhận thế chấp bằng tài sản là đối tượng của điều khoản bảo lưu quyền sở hữu hay không? Khi áp dụng quy định nêu trên thì bên mua sẽ không được sử dụng tài sản này làm tài sản thế chấp. Tuy nhiên, bên bán có thể đem tài sản là đối tượng bảo lưu quyền sở hữu đi thế chấp do bên bán vẫn là chủ sở hữu tài sản nhưng quyền của bên nhận thế chấp sẽ ở vị trí ưu tiên sau quyền của bên mua 2 Khoản 1, Điều 331, Bộ luật dân sự: “Trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ”. 11 nếu bảo lưu quyền sở hữu đã được đăng ký do bảo lưu quyền sở hữu phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký (khoản 3, Điều 331, Bộ luật dân sự). Tài sản thế chấp phải xác định được Khoản 2, Điều 295, Bộ luật dân sự quy định: “Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được”.

Quy định này cũng được áp dụng cho thế chấp tài sản. Đây cũng được coi là một điều kiện hiệu lực của giao dịch bảo đảm. Trong thực tế, vấn đề phải mô tả tài sản bảo đảm như thế nào thì sẽ được xem như đáp ứng được yêu cầu của quy định này không phải lúc nào cũng thực sự rõ ràng với các bên trong giao dịch (Bùi Đức Giang 2018, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ