Chương I II : Yêu cầu và nội dung cua việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất nhằm bảo dam thực hiện hợp đông tín dụng ngán hàng. Cuối cùng là danh mục các tài liệu trích dan và tham khảo. Trang 8 CHƯƠNG | KHÁI LUẬN VỀ CAC BIEN PHAP BAO DAM THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.Bản chất, vai trò và đặc trưng cua tin dụng ngắn hàng Hoạt động tín dụng ra đời từ rất lâu (khoảng 2000 năm trước công nguyên) nhưng chỉ đến khi những hình thức đầu tiên của ngân hàng được hình thành và phát triển (thế kỷ 14 - 15) thì hoạt động tín dụng mới thực sự phát triển mạnh mẽ và hợp đồng tín dụng mới được điều chỉnh bằng pháp luật. Mac dù ra đời từ rất sớm nhưng cho đến nay người ta van chưa có sự thống nhất khi định nghĩa đây đủ về “Tin dụng”.
Khái niệm “Tin dụng” có nguồn gốc từ thuật ngữ La tinh “Credittum” có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm để chỉ một quan hệ vay mượn tiền tệ trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau. Điều nay có nghĩa là người vay sẽ hoàn trả nợ cho người cho vay một cách đúng hạn. Như vậy, để quan hệ tín dụng có thể tồn tại nó đòi hỏi các chủ thể tham gia quan hệ đó phải tin tưởng lẫn nhau. Tín dụng là một quan hệ dân sự - kinh tế chỉ việc sử dụng vốn tạm thời giữa người vay và người cho vay theo nguyên tắc có hoàn trả dựa trên cơ sở sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau.
Quan hệ — Trang9 tín dụng phát sinh khi một bên (chủ nợ) giao cho bên kia (con nợ) sử dụng một số tiền trong một thời hạn nhất định, khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ (trả nợ) người vay (con nợ) phải trả cho người cho vay (chủ nợ) số tiền vay kèm theo khoản lãi (khoản tiền chênh lệch giữa số tiền vay và số tiền phải trả khi đến hạn) mà các bên đã thoả thuận trước. Theo Mác thì tín dụng dưới hình thức biểu hiện của nó là sự tín nhiệm, ít nhiều có căn cứ đã khiến người này giao cho người khác một số tư bản nào đó dưới hình thái hàng hoá - được đánh giá thành một số tiền nhất định và số tiền này bao giờ cũng được trả lại trong một thời hạn đã ấn định trước”. Xét về nội dung kính tế, tín dụng thực chất là một quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị, biểu hiện một hình thái vận động đặc biệt của nguồn tài chính. Sự vận động này được thực hiện theo một chu kỳ khép kín mang tính quy luật nhằm để giải quyết những mâu thuẫn giữa người thừa vốn với người thiếu vốn, điều hoà nhu cầu tạm thời về vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
e Với bản chất là một phạm trù kinh tế, tín dụng đã ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Tuy nhiên, dù vận dộng ở phương thức sản xuất nào, đối tượng của quan hệ vay mượn là hàng hoá ? chú thích : C. Mác: Tư bản, Nxb Sự thật, Hà nội, 1987. Trang 10 hay tiền tệ thì tín dụng cũng mang những đặc trưng cơ bản sau đây: Tín dụng chỉ làm thay đổi quyền sử dụng mà không thay đổi quyền sở hữu (người cho vay chỉ chuyển giao cho người vay sử dụng vốn tiền tệ chứ không chuyển giao cho người vay quyền sở hữu vốn cho vay).
e Thời hạn tín dụng được xác định dựa trên co sở sự thoả thuận giữa người cho vay và người vay. Khi hết thời hạn sử dụng người sử dụng vốn phải hoàn trả vốn cho người cho vay (chủ sở hữu vốn tiền tệ). Thông qua tín dụng, người sở hưñ tín dụng (người cho vay) nhận được một phần thu nhập dưới hình thức lợi tức - lãi (khoản tiền chênh lệch giữa số tiền vay và số tiền phải trả khi đến hạn). Khoản tiền này gọi là lợi tức tín dụng hay lãi suất tín dụng.
Tín dụng ra đời, phát triển là một tất yếu khách quan của nền sản xuất xã hội. Vì một xã hội khi nền sản xuất hàng hoá phát triển đến một mức độ nhất định thì sự phân hoá giau nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội là một tất yếu khách quan dẫn đến sự xuất hiện của một tầng lớp dân cư có thu nhập cao, nhiều vốn với một tầng lớp khác (thường chiếm đại bộ phận dân cư) có thu nhập thấp hơn, thiếu vốn để sản xuất kinh doanh. Khi đó, để giải quyết mâu thuẫn giữa những người thừa vốn và những người thiếu vốn. hoạt động tín dụng với sự ra đời của mình đã điều hoà được các nhu cầu tạm thời về vốn.
_ Trang11 Như vậy, tín dụng ra đời và phát triển là một tất yếu khách quan của nền sản xuất hàng hoá có chức năng giải quyết mâu thuần giữa người thừa vốn với người thiếu vốn, điều hoà nhu cầu tạm thời về vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Quan hệ tin dụng gan liền với quan hệ kinh tế giữa người vay vốn và người cho vay, nó thể hiện quy trình vận động của vốn cho vay thông qua việc phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay, tiếp theo là việc sử dụng vốn trong quá trình tái sản xuất và điểm cuối cùng của quá trình là sự hoàn trả (cả vốn lẫn lãi) của tín dụng. Theo quan niệm của các nhà kinh tế cổ điển thì vốn tiền tệ trong trường hợp này chỉ tạm thời rời khỏi tay chủ sở hữu sang tay nhà tư bản hoạt động nên nó không phải được bỏ ra để thực hiện chức năng thanh toán mà nó được nhượng lại với điều kiện nó sẽ quay lại điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định. Tín dụng là một quan hệ phân phối vốn dựa trên nguyên tac có hoàn trả.
Sự hoàn trả của tín dụng là điểm đặc trưng thuộc về bản chất của quá trình vận động của tín dụng. Tín dụng được biểu hiện ra ngoài bang sự vận động của vốn cho vay dién ra dưới hai hình thức cơ bản: Tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng. Tín dụng thương mại là tín dụng phát sinh từ việc hoãn trả nợ khi cung cấp hàng hoá cho nhau. Nhà kinh doanh khi cung cấp hàng hoá cho người mua dưới hình thức mua chịu thì trên thực tế _— Trang12_ họ đã cung cấp tín dụng cho người mua.
Chính vì vậy tín dụng thương mại gán liền với hợp đồng mua bán hàng hoá. Tín dụng ngân hàng là tín dụng phát sinh từ việc ngân hàng cấp cho các nhà kinh doanh và các chủ thể khác một khoản tiền vay nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm nhàm thoả mãn nhu cầu về vốn của các chủ thể vay (ở day có sự phân biệt rạch ròi giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn). Về mặt lịch sử, tín dụng thương mại là cơ sở của tín dụng ngân hàng và chúng có mối liên hệ chặt chế với nhau. Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá việc thừa vốn, thiếu vốn giữa các nhà doanh nghiệp là điều thường xảy ra do đó việc hình thành tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng sẽ điều tiết việc thừa vốn hay thiếu vốn đó.
Tuy nhiên do hạn chế bởi hình thức cung cấp vốn của mình, tín dụng thương mại còn nhiều nhược điểm về quy mô, về thời hạn, về đối tượng. Với tư cách là tổ chức trung gian về tín dụng, ngân hàng vừa là người vay vừa là người cho vay nên đã khác phục được những hạn chế nêu trên của tín dụng thương mai. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá các hình thức tín dụng ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Đặc biệt khi nghề kinh doanh tiền tệ ra đời thì hình thức tín dụng ngân hàng thật sự chiếm lĩnh toàn bộ hệ thống tín dụng và giữ vai trò chủ yếu đối với quá trình phát triển nền sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực và các tầng lớp dân cư trong toàn xã hội. Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đang tồn tại và phát triển là cơ sở khách quan để tín dụng tồn tại và phát triển vì trong giai đoạn này tín dụng ngân hàng được sử dụng như một đòn bẩy nhăm tạo ra một động lực to lớn trong việc thúc đẩy nền sản xuất phát triển. Điều này thể hiện ở chỗ các ngân hàng chuyên doanh với tư cách là một tổ chức tài chính trung gian tập trung đại bộ phận nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, đáp ứng kịp thời nhu về cầu vốn cho đầu tư phát triển của các doanh nghiệp, qua đó góp phần điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá trình tái sản xuất không bị gián đoạn. Như vậy, có thể nói tín đụng ngân hàng luôn là bạn đường của tiến trình phát triển kinh tế xã hội.
Trên cơ sở tập trung, tận dụng những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tín dụng ngân hàng đã trực tiếp giảm bớt khối lượng tiền mặt tồn đọng trong lưu thông góp phần ổn định tiền tệ - ổn định giá cả vì lượng tiền tồn đọng này nếu không được huy động và sử dụng kịp thời có thể gây ảnh hưởng xấu đến tình hình lưu thông tiền tệ, dẫn đến sự mất cân đối trong quan hệ hàng - tiền, kéo theo hệ thống giá cả bị biến động là điều không tránh khỏi. Do đó, trong điều kiện nền kinh tế bị lạm phát thì tín dụng được Trang 14 xem như là một trong những biện pháp hữu hiệu góp phần làm giảm lạm phát. Tuy nhiên để thực hiện vai trò nêu trên, tín dụng ngân hàng không thể bó qua hoạt động của ngân hàng Nhà nước thông qua việc cấp vốn cho các tổ chức tín dụng đã vận dụng linh hoạt công cụ điều tiết vĩ mô là lãi suất tái chiết khấu để đưa thêm tiền vào lưu thông hay rút bớt tiền từ lưu thông về, nhằm tạo sự phù hợp giữa khối lượng tiền tệ với yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định tiền tệ và giá cả.