CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc điểm thế chấp tài sản là quyền sở hữu công nghiệp 1. Khái niệm thế chấp quyền sở hữu công nghiệp Hiện nay, trong quy định pháp luật Việt Nam, khái niệm thế chấp tài sản là quyền sở hữu công nghiệp (“SHCN”) chưa có quy định cụ thể và riêng biệt. Quy định về thế chấp quyền SHCN theo pháp luật Việt Nam được quy định chung với các loại tài sản khác theo quy định về thế chấp tài sản tại Bộ luật Dân sự 2015 (“BLDS 2015”).
Để có được khái niệm về thế chấp quyền SHCN, tác giả sẽ phân tích từ cái chung đến cái riêng về thế chấp tài sản và thế chấp tài sản là quyền sở hữu công nghiệp. Theo từ điển tiếng Việt, thế chấp đó là dùng tài sản làm vật bảo đảm, thay thế cho số tiền vay nếu không có khả năng trả đúng kỳ hạn8. Định nghĩa này cũng tương đồng với định nghĩa về thế chấp tài sản được quy định tại BLDS 2015. Theo đó, thế chấp tài sản là “việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”9.
Vì vậy, có thể hiểu thế chấp là một phương thức mà bên có nghĩa vụ sử dụng tài sản của mình để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ dân sự với bên có quyền trong trường hợp nghĩa vụ bị vi phạm. Đối tượng tài sản trong giao dịch thế chấp theo quy định tại Điều 318, BLDS 2015 có thể là vật hoặc quyền tài sản10. Tài sản có thể được phân loại bằng nhiều cách khác nhau. Dựa trên phân loại vào hình thức tồn tại của chúng, có thể phân loại tài sản thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
Mặc dù, pháp luật không quy định thế nào là tài sản hữu hình, tuy nhiên ta có thể hiểu tài sản hữu hình là những gì tồn tại dưới dạng vật chất, là tài sản mà con người có thể cầm nắm được, có thể cảm nhận 8 Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr933. 9 Điều 317, Bộ luật Dân sự 2015. 10 Đoàn Thị Ngọc Hải, “Thế chấp tài sản - biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”, https://moj.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2376, truy cập ngày 19/11/2023. 14 thông qua các giác quan của con người.
Còn tài sản vô hình, trái ngược với tài sản hữu hình là tài sản không tồn tại ở dưới dạng vật chất, con người không thể cảm nhận bằng các giác quan không thể cầm, nắm được. Tài sản vô hình ở đây đó chính là các quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác11. BLDS 2015 không còn giới hạn tài sản được đem đi thế chấp phải là bất động sản mà chỉ quy định chung là tài sản thuộc sở hữu của bên nhận thế chấp. Còn như thế nào là tài sản thế chấp thì vẫn chưa có bất kỳ quy định nào được ghi nhận trong bất kỳ văn bản pháp luật nào.
Để xác định tài sản thế chấp phải dựa trên nguyên tắc xác định tài sản bảo đảm. Theo đó, nguyên tắc xác định tài sản bảo đảm được quy định tại Điều 295, BLDS 2015 như sau: “(i) Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu; (ii) Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được; (iii) Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai; (iv) Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm”. Có thể thấy, tài sản được quy định tại nguyên tắc không phân biệt tài sản là vật hay quyền tài sản mà chỉ gọi chung là tài sản. Cùng với khái niệm về tài sản được quy định tại BLDS 2015, có thể hiểu rằng tài sản thế chấp có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản12, có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, bất kỳ tài sản nào cũng có thể là tài sản thế chấp chỉ cần tài sản thế chấp đó thuộc sở hữu của bên thế chấp, được các bên lựa chọn là đối tượng để bảo đảm thực hiện nghĩa và không thuộc trường hợp pháp luật cấm giao dịch.
Các bên trong giao dịch thế chấp được quyền tự do thỏa thuận lựa chọn tài sản thế chấp có thể bao gồm vật hoặc quyền để bảo đảm quyền của bên nhận thế chấp khi có sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm13. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 6, Thông tư 08/2018/TT-BTP hướng dẫn đăng ký cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm được sửa đổi bổ sung bởi 11 Điều 115, Bộ luật Dân sự 2015. 12 Khoản 1, Điều 105, Bộ luật Dân sự 2015. 13 Vũ Thị Hồng Yến (2013), “Tài Sản Thế Chấp Và Xử Lý Tài Sản Thế Chấp Theo Quy Định Của Pháp Luật Dân Sự Việt Nam Hiện Hành”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội.
15 Thông tư 06/2020/TT-BTP quy định quyền tài sản phát sinh từ quyền SHCN thuộc trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng. Do đó, có thể chắc chắn quyền SHCN là một loại tài sản được quy định tại BLDS 2015 và có thể là tài sản bảo đảm trong giao dịch thế chấp. Theo đó, bằng quyền SHTT của mình, chủ sở hữu quyền có thể “dùng quyền SHTT làm đòn bẩy để thu hút vốn từ các nhà đầu tư, sử dụng quyền SHTT làm tài sản bảo đảm trong giao dịch cấp vốn có bảo đảm. Cụ thể, theo Điều 17 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định chủ sở hữu quyền tài sản phát sinh từ quyền sở hữu trí tuệ được dùng quyền tài sản đối với đối tượng quyền SHCN, quyền khác trị giá được bằng tiền phát sinh từ quyền sở hữu trí tuệ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Quyền SHCN là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ (“SHTT”) và bao gồm nhiều đối tượng khác nhau được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022) (“Luật SHTT 2005”). Việc quy định quyền SHCN bao gồm nhiều đối tượng nhằm tuân thủ theo Công ước Paris mà Việt Nam là thành viên rằng “Quyền SHCN phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không những chỉ áp dụng cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của chúng mà cho cả các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm chế biến hoặc sản phẩm tự nhiên như rượu vang, ngũ cốc, lá thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoáng, bia, hoa và bột15”. Theo đó, quyền SHCN được quy định tại khoản 4, Điều 4 là kết quả từ hoạt động sáng tạo, tư duy trong tất cả các lĩnh vực trong đời sống bao gồm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Các ước tính cho thấy giá trị toàn cầu của tài sản vô hình đã tăng gấp 10 lần trong 25 năm qua16.
Có thể thấy, quyền SHCN có giá trị rất lớn, những tài sản được bảo vệ bằng quyền SHCN, chẳng hạn như, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu 14 Nguyễn Ngọc Xuân Thảo, Luật Sở hữu trí tuệ, Án lệ, lý thuyết và bài tập vận dụng, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2013, tr. 15 Khoản 3, Điều 1, Công ước Paris.
16 Brand Finance (2021), “Global Intangible Finance Tracker — an annual review of the world’s intangible value”, https://brandirectory.com/reports/gift-2021, truy cập ngày 06/3/2024. 16 và sáng chế, có thể được sử dụng để hỗ trợ cho vay và đầu tư như là tài sản bảo đảm trong giao dịch thế chấp giúp các doanh nghiệp có thể đảm bảo nguồn tiền mặt cần thiết để phát triển và mở rộng hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên do bản chất của các quyền SHCN chỉ được bảo hộ trong một thời hạn nhất định vì vậy mà khi thế chấp loại tài sản này, các bên cần phải đảm bảo các đối tượng quyền SHCN vẫn còn đang trong thời hạn bảo hộ. Từ các phân tích trên, có thể rút ra được khái niệm thế chấp tài sản là quyền SHCN như sau “Thế chấp quyền SHCN là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng quyền tài sản phát sinh từ quyền SHCN hay quyền khác trị giá được bằng tiền phát sinh từ quyền SHCN, thuộc sở hữu của mình và vẫn còn trong thời hạn bảo hộ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không cần chuyển giao các quyền này cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”.
Ngoài ra, tài sản là quyền SHCN được đem đi thế chấp cũng phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc được quy định và đặc điểm của biện pháp thế chấp tài sản được quy định tại BLDS 2015. Đặc điểm thế chấp quyền sở hữu công nghiệp Thế chấp là biện pháp bảo đảm được sử dụng phổ biến bởi các tổ chức tín dụng (“TCTD”) trong hoạt động cấp tín dụng, vay vốn vì những đặc điểm riêng biệt của biện pháp này. Thế chấp quyền SHCN vẫn mang bản chất là biện pháp thế chấp tài sản hay nói đúng hơn là một bộ phận của biện pháp thế chấp tài sản, do đó, thế chấp quyền SHCN cũng mang các đặc điểm tương đồng với biện pháp thế chấp tài sản và các đặc điểm riêng biệt như sau: Thứ nhất, đối tượng quyền SHCN trong giao dịch thế chấp phải có khả năng chuyển giao được cho chủ thể khác. Như đã phân tích ở trên, khi bên thế nhận thế chấp có căn cứ bên thế chấp sẽ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, bên nhận thế chấp được xử lý tài sản thế chấp là để thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm bằng các phương thức xử lý tài sản thế chấp được quy định tại BLDS 2015.
Các phương thức chính để xử lý tài sản thế chấp là bán tài sản thế chấp hoặc nhận chính tài sản thế chấp để thay thế cho cho việc thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, quyền SHCN là 17 tài sản bảo đảm trong hợp đồng thế chấp phải là đối tượng có khả năng chuyển giao được như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại.