Chương 1: Khái quát về biện pháp bảo đảm thế chấp quyền đòi nợ. Chương 2: Thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm là thế chấp quyền đòi nợ. KHÁI QUÁT VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ 1. Khái niệm và đặc điểm quyền đòi nợ 1.
Khái niệm quyền đòi nợ. Quyền đòi nợ được hiểu là "việc bên có quyền (gọi là chủ nợ) yêu cầu bên có nghĩa vụ (gọi là người mắc nợ) trả cho mình một số tiền”1. Theo cách hiểu này quyền đòi nợ là một quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự về trả tiền Trong lý thuyết vật quyền, quyền đòi nợ là quyền đối nhân, là quyền chống lại hành vi của một người, gọi là người có nghĩa vụ2. Theo đó, quyền đòi nợ được thiết lập bởi mối quan hệ giữa hai chủ thể là chủ nợ, người có quyền và người mắc nợ, người có nghĩa vụ, gọi là trái quyền.
Trong mối quan hệ giữa chủ nợ và người mắc nợ, quyền đối nhân phát sinh hiệu lực có tính đối kháng tuyệt đối, nghĩa là chủ nợ chỉ có quyền yêu cầu người mắc nợ thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà không có quyền yêu cầu người khác. Trái quyền được thực hiện dựa trên nguyên tắc tự nguyện, giao dịch tự nguyện, người có nghĩa vụ tự nguyện hợp tác trả nợ, chủ nợ thực hiện quyền yêu cầu người mắc nợ trả nợ. Chủ nợ không được tự động thu giữ tài sản của người mắc nợ để trừ nợ.3 Trong quy định của luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ không có quy định định nghĩa quyền đòi nợ. Quyền đòi nợ chỉ được liệt kê là một loại quyền tài sản trong BLDS 1995, BLDS 20054 và các văn bản dưới luật.
BLDS 2015 chỉ đề cập đến quyền đòi nợ tại khoản 2 điều 450 về mua bán quyền tài sản. Từ quy định này, 1 Nguyễn Ngọc Điện, giáo trình luật dân sự tập 2, Nhà xuất bản đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr 378. 2 Nguyễn Ngọc Điện (2009), Giáo trình Luật La Mã, Trường Đại học Cần Thơ, Nhà XB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.
3 Nguyễn Ngọc Điện (2005), “ Cần xây dựng lại khái niệm “Quyền tài sản” trong luật dân sự”, tạp chí nghiên cứu lập pháp số 3 năm 2005; Nguyễn Ngọc Điện (2018), Giáo trình Luật dân sự tập 2, Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2018, Tr 228. 4 Khoản 2 Điều 442 BLDS 1995, Điều 322 BLDS 2005.
7 BLDS 2015 gián tiếp xác định quyền đòi nợ là một quyền tài sản. Đối chiếu quy định về quyền tài sản tại điều 115 BLDS 2015, ta có thể hiểu quyền đòi nợ là một quyền tài sản khác. Dưới góc độ lý thuyết vật quyền, các nhà nghiên cứu xác định quyền tài sản là một khái niệm pháp lý của tài sản. Theo đó, tài sản được nhận biết là vật hoặc quyền.
Theo tiêu chí vật lý, tài sản là vật, có thể nhận biết bằng giác quan thì là vật hữu hình, ngược lại là vật vô hình. Theo góc độ là quyền tài sản, tài sản là quyền, quyền được thực hiện trực tiếp trên một vật hữu hình mà không cần sự hỗ trợ của một người nào khác gọi là quyền đối vật, quyền được thực hiện chống lại một người gọi là quyền đối nhân. Trong đó, quyền chủ nợ được xem là quyền đối nhân điển hình. Theo quy định của luật dân sự Pháp năm 1827, tài sản là một quyền hưởng dụng và định đoạt đối với một vật có tính cách tuyệt đối miễn không vi phạm điều cấm của pháp luật.5 Luật dân sự Pháp phân loại tài sản gồm hai loại, động sản và bất động sản.6 Trong đó, tài sản là động sản do tính chất của nó hoặc do quy định của pháp luật.7 Quyền tài sản trong luật pháp Anh – Mỹ (hệ thống thông luật – Common Law) trong nội hàm khái niệm tài sản, bao gồm tài sản hữu hình (corporeal) và tài sản vô hình (incorporeal) và tài sản là một quyền.8 Khác với các loại tài sản khác, quyền tài sản không có hình thái vật chất như các loại tài sản khác (vật, tiền, giấy tờ có giá).
Học thuyết pháp lý chia động sản 5 Điều 544 The Code Napoleon 1827 “Property is the right of enjoying and disposing of things in the most absolute manner, provided they are not used in the way prohibited by the laws or statutes”. 6 Điều 516 The Code Napoleon 1827 “All property is moveable or immoveable.” 7 Điều 527 The Code Napoleon 1827 “Property is moveable in its nature or by the determination of the law.” 8 Samantha Hepburn (2001), Principles of property law 2nd, Cavendish Publishing, New South Wales, Australia “Property is used in the law in various senses to describe a range of legal and equitable estates and interests, corporeal and incorporeal. Distinct corporeal and incorporeal property rights in relation to the one object may exist concurrently and be held by different parties.” “Property describes the relationship between an individual and an object or resource; it does not refer to the object itself. The property relationship confers a legally enforceable right or, more accurately, a bundle of rights entitling the holder to control an object or resource.” 8 thành 3 nhóm là động sản tự nhiên, động sản do bản chất kinh tế và động sản vô hình.9 Theo sự phân nhóm này thì quyền tài sản là động sản vô hình.
Là quyền tài sản, theo phương pháp loại suy ta có thể xem quyền đòi nợ là động sản theo quy định tại khoản 2 điều 107 BLDS 2015. Dưới góc độ pháp luật về tài sản, quyền đòi nợ là một loại tài sản. Trong đó, quyền đòi nợ là động sản vô hình mà người có quyền không được phép thực hiện một quyền gì đặc biệt trên một tài sản đặc định.10 Quyền đòi nợ được quy định trong Luật dân sự của Cộng hòa Pháp là động sản vô hình.11 Biện pháp bảo đảm cầm cố quyền đòi nợ được phân loại là biện pháp bảo đảm đối vật (biện pháp bảo đảm đối nhân chỉ gồm bảo lãnh, bảo lãnh độc lập và thư bảo trợ). Khái niệm động sản vô hình hay tài sản vô hình cho tới nay không tồn tại trong pháp luật dân sự Việt Nam.
Dưới góc độ của pháp luật về nghĩa vụ dân sự, nhiều quan điểm pháp luật xem quyền đòi nợ là một quyền phát sinh từ hợp đồng giống như các quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng khác (quyền yêu cầu thanh toán, quyền được bồi thường thiệt hại, quyền thụ hưởng bảo hiểm phát sinh từ hợp đồng mua bán, hợp đồng góp vốn, hợp đồng hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh, hợp đồng cho thuê, vv.) được luật pháp quy định. Quyền đòi nợ được hiểu là quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện một công việc, cụ thể là phải thanh toán một khoản tiền cho bên có quyền tại một thời điểm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Quyền đòi nợ có thể được thanh toán khi bên có quyền yêu cầu hay khi phát sinh một sự kiện tương lai nhất định mà các bên đã thỏa thuận.12 Về mặt lý luận, các nhà nghiên cứu cho rằng 9 Nguyễn Ngọc Điện, giáo trình luật dân sự tập 1, Nhà xuất bản đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr 237.
10 Nguyễn Ngọc Điện, giáo trình luật dân sự tập 1, Nhà xuất bản đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr 237. 11 ĐIỀU 2356 Luật dân sự Cộng hòa Pháp “ Việc cầm cố tài sản vô hình là quyền đòi nợ phải được xác lập bằng văn bản, nếu không sẽ bị vô hiệu.” 12 Bùi Đức Giang, (2013),”Giao dịch có đối tượng quyền đòi nợ”, Tạp chí Ngân hàng số 19/2013. 9 quyền đòi nợ là một quyền yêu cầu (Đỗ Văn Đại, 2014)13.
Nói khác hơn, quyền đòi nợ mang tính chất hỗn hợp, vừa là một mối quan hệ về mặt pháp luật, đồng thời lại là một loại tài sản (Bùi Đức Giang-2013)14. Do đó, mua bán quyền đòi nợ được xem là một trường hợp đặc biệt của chuyển giao quyền yêu cầu (Nguyễn Ngọc Điện – 2018).15 Về bản chất, quyền đòi nợ được thiết lập bởi mối quan hệ giữa hai chủ thể là chủ nợ và người mắc nợ, mối quan hệ này thông thường là quan hệ dân sự trong hợp đồng song vụ. Trong đó, quyền đòi nợ là quyền phát sinh khi một bên có nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn và một bên có quyền yêu cầu thanh toán theo điều khoản thanh toán được thỏa thuận giữa các bên tham gia giao dịch. Do vậy, nội dung quy định tại khoản 4 điều 22 Nghị định 16316 và khoản 11 điều 1 Nghị định 11-2012 bổ sung điều 22 của Nghị định 16317 đã xác định việc chuyển giao quyền đòi nợ là chuyển giao quyền yêu cầu.
Theo quy định của BLDS 2015, chuyển giao quyền yêu cầu là một nội dung về nghĩa vụ và hợp đồng, được quy định tại điều 365 và 368. Cũng trên tinh thần đó, quy định tại khoản 7 điều 6 Thông tư 08-2018, quyền đòi nợ được xác định là quyền tài sản theo quy định tại điều 115 BLDS 2015 gồm (i) quyền đòi nợ, (2i) quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng góp vốn xây dựng nhà ở, hợp đồng hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh nhà ở, hợp 13 Đỗ Văn Đại (2014), Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Việt Nam, bản án và bình luận bản án, tập 1, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội. 14 Bùi Đức Giang, (2013),”Giao dịch có đối tượng quyền đòi nợ”, Tạp chí Ngân hàng số 19/2013. 15 Nguyễn Ngọc Điện (2018), Giáo trình Luật dân sự tập 1, tập 2, Trường Đại học Mở TP.
Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2018, Tr. 16 Khoản 4 Điều 22 Nghị định 163 “4. Trong trường hợp quyền đòi nợ được chuyển giao theo quy định tại Điều 309 Bộ luật Dân sự thì thứ tự ưu tiên giữa bên nhận chuyển giao quyền đòi nợ và bên nhận thế chấp quyền đòi nợ được xác định theo thời điểm đăng ký các giao dịch đó tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có thẩm quyền.” 17 khoản 11 điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP ““5.
Trong trường hợp quyền đòi nợ được chuyển giao theo quy định tại Điều 313 Bộ luật Dân sự thì các bên không phải ký kết lại giao dịch bảo đảm. Khi thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi bên nhận bảo đảm theo quy định của pháp luật thì bên nhận chuyển giao quyền đòi nợ xuất trình hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ để chứng minh sự thay đổi.