mở đầu và cũng là khâu kết thúc của một chu kỳ sản xuất, nhờ vậy chu kỳ sản xuất sẽ được rút ngắn, tăng tốc độ chu chuyển vốn, đáp ứng nhu cầu tái sản xuất của doanh nghiệp, từ đó góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế. TTKDTM giúp ngân hàng và các tổ chức tín dụng tập trung được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ nền kinh tế để mở rộng việc cấp tín dụng Ngân hàng cho nền kinh tế. Để có thể tham gia thanh toán qua ngân hàng, các doanh nghiệp và các cá nhân phải mở tài khoản tại ngân hàng, mỗi tài khoản này thường có số dư biến đổi, tuy nhiên tổng số dư trên tài khoản tiền gửi lại ổn định tương đối. Đây là nguồn vốn khá lớn và có chi phí thấp mà ngân hàng có thể sử dụng để mở rộng đầu tư và tín dụng cho nền kinh tế, làm tăng thu nhập cho ngân hàng.
Hơn nữa, qua nghiệp vụ thanh toán qua ngân hàng, ngân hàng sẽ nắm rõ hơn tình hình tài chính và hoạt động của doanh nghiệp, cho phép ngân hàng đánh giá đúng đắn khách hàng để có quyết định tối ưu nhất trong việc giải quyết cho khách hàng vay. TTKDTM tạo điều kiện cho việc mở rộng các dịch vụ ngân hàng, tăng khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng. Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng không chỉ để hưởng lãi mà còn để sử dụng các dịch vụ Ngân hàngvà mục đích chính của khách hàng khi sử dụng các dịch vụ này là vì sự tiện ích, sự hấp dẫn của chúng. Vì vậy, để thu hút được khách hàng nhằm tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trên thị trường phụ thuộc vào số lượng và chất lượng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng trong đó có dịch vụ thanh toán.
Học viên: Lê Văn Dũng – Lớp QTKD2-2010B 15 Đồ án tốt nghiệp – Thạc sỹ quản trị kinh doanh Hà Nội/2012 Mặt khác, khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng không phải với mục đích là hưởng lãi do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cho số dư tài khoản của khách hàng là rất thấp thậm chí ở một số nước trên thế giới mức lãi suất này là bằng không (0%). Đây là nguồn vốn có chi phí thấp nên ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này để cho vay cùng với mức lãi suất thấp, nhờ vậy sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến vay vốn tại ngân hàng, làm tăng sức cạnh tranh cho ngân hàng. Thông qua TTKDTM, giúp ngân hàng nói riêng và các nhà quản lý trong lĩnh vực tiền tệ nói chung tập trung được nguồn vốn, từ đó sử dụng vốn có hiệu quả, tránh lãng phí vốn. Bên cạnh đó nó còn góp phần vào việc ổn định hoá các nhu cầu dự trữ của NGÂN HÀNG, cho phép các nhà quản lý trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng có thể xác định một cách chính xác các thay đổi của cung, cầu, của dự trữ khi có sự thay đổi về hoạt động thu, chi của Chính phủ hoặc có sự can thiệp trên thị trường tiền tệ hay thị trường ngoại hối.
Đối với các nhà quản lý vĩ mô của Nhà nước, ngân hàng là công cụ kinh tế quan trọng để thông qua đó các chính sách của Nhà nước về tiền tệ, tín dụng và thanh toán được thực hiện. Vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước qua ngân hàng chỉ thực sự phát huy đầy đủ tác dụng khi phần lớn khối lượng thanh toán được tập trung qua các ngân hàng. Nếu TTKDTM tăng lên, lượng tiền ngoài lưu thông giảm, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc quản lý, ổn định các mục tiêu kinh tế vĩ mô như: Lạm phát, tỷ giá, công ăn việc làm,. giúp NHTW, các nhà hoạch định có biện pháp, chính sách kịp thời nhằm thực hiện tốt chức năng kiểm soát tiền tệ.
Tóm lại, TTKDTM có vai trò hết sức quan trọng, có tác động lên hầu hết mọi lĩnh vực của nền kinh tế và có tác động to lớn đến việc điều hành chính sách tiền tệ của Nhà nước. Mặt khác, nó còn là nhân tố không thể thiếu được trong việc ổn định và phát triển kinh tế. Do vậy, tìm mọi biện pháp khả thi nhằm đẩy mạnh công tác TTKDTM là một đòi hỏi tất yếu của mọi nền kinh tế; Đồng thời, đây cũng là một trọng trách thuộc về ngân hàng - trung tâm thanh toán của nền kinh tế. Học viên: Lê Văn Dũng – Lớp QTKD2-2010B 16 Đồ án tốt nghiệp – Thạc sỹ quản trị kinh doanh Hà Nội/2012 1.
Các thể thức thanh toán qua ngân hàng Để thanh toán các khoản nợ trong sản xuất, lưu thông hàng hoá và dịch vụ cũng như trong lĩnh vực phi hàng hoá người ta có thể thanh toán trực tiếp giữa các khách hàng với nhau hay thanh toán gián tiếp qua trung gian bằng các công cụ thanh toán thích hợp như tiền mặt, hay không dùng tiền mặt, bằng các công cụ khác như kỳ phiếu thương mại, thanh toán qua ngân hàng. Thông thường việc thanh toán qua ngân hàng áp dụng các thể thức thanh toán sau đây: o Séc. o Uỷ nhiệm chi - hoặc lệnh chi. o Uỷ nhiệm thu - hoặc nhờ thu.
o Thẻ ngân hàng. Mỗi đơn vị, cá nhân, tuỳ theo yêu cầu của mình mà lựa chọn thể thức thanh toán cho thích hợp. Trừ những đơn vị hay cá nhân vi phạm kỷ luật thanh toán thì buộc phải áp dụng thể thức thanh toán do ngân hàng chỉ định. Khi lựa chọn thể thức thanh toán một mặt phải dựa vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình, nhưng đồng thời cũng cần tạo thuận lợi cho khách hàng của đơn vị mình.
Séc (Cheque - check) Khái niệm: Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản, được lập trên mẫu do NHTW quy định, yêu cầu đơn vị thanh toán trích một số tiền từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc hoặc trả cho người cầm séc. Như vậy, Séc là một chi phiếu, lập trên mẫu in sẵn do chủ tài khoản phát hành giao trực tiếp cho người bán để thanh toán tiền vật tư, hàng hoá, chi phí, dịch vụ. Thanh toán séc có đặc điểm: Học viên: Lê Văn Dũng – Lớp QTKD2-2010B 17 Đồ án tốt nghiệp – Thạc sỹ quản trị kinh doanh Hà Nội/2012 Khách hàng là người mua tự phát hành séc và tự trao đổi trực tiếp để trả tiền cho người bán, công đoạn này thực hiện ngoài ngân hàng không có sự tham gia của ngân hàng; Ngân hàng chỉ làm các dịch vụ theo uỷ quyền của khách hàng về mở tài khoản phát hành séc cho khách hàng, bán séc cho khách hàng; Quản lý số dư tài khoản và thanh toán séc khi người thụ hưởng (người bán hàng, người cung cấp dịch vụ) nộp vào ngân hàng. Nhờ có dịch vụ này khách hàng mua không phải dùng tiền mặt mà dùng séc thay thế trực tiếp và người bán nộp séc vào ngân hàng thay vì nộp tiền mặt vào tài khoản ở ngân hàng để tăng tài sản gửi ngân hàng của mình.
Séc có tính thời hạn. Tính thời hạn của séc được thể hiện ở chỗ: Nó chỉ có giá trị thanh toán trong thời hạn có hiệu lực. Séc có nhiều loại, được phân chia theo các tiêu thức khác nhau. Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng, có các loại séc: o Séc ký danh, được ghi rõ tên người thụ hưởng trên tờ séc; o Séc vô danh, không ghi rõ tên người thụ hưởng trên tờ séc, bất kỳ ai cầm tờ séc cũng có thể nhận đủ số tiền ghi trên tờ séc tại ngân hàng.
o Séc theo lệnh, ghi rõ trả tiền theo lệnh của người thụ hưởng, séc này được chuyển nhượng theo thủ tục ký hậu. Căn cứ vào hình thức thanh toán, có các loại séc: o Séc tiền mặt, chỉ để dùng nhận tiền mặt tại ngân hàng. o Séc chuyển khoản, dùng để chuyển khoản bằng cách trích tiền trên tài khoản của người phải trả chuyển sang tài khoản của người được hưởng. o Séc xác nhận, được ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán.
Phạm vi áp dụng cho khách hàng có tài khoản ở cùng ngân hàng hoặc khác ngân hàng nhưng cùng địa bàn có tham gia thanh toán bừ trừ. Thông thường, Séc có thời hạn xuất trình 30 ngày kể từ ngày ký phát (trường hợp bất khả kháng thời hạn xuất trình séc ngay sau các sự kiện này chấm dứt nhưng không quá 06 tháng kể từ ngày ký phát séc). Học viên: Lê Văn Dũng – Lớp QTKD2-2010B 18 Đồ án tốt nghiệp – Thạc sỹ quản trị kinh doanh Hà Nội/2012 Hình thức thanh toán bằng séc ra đời rất sớm và là hình thức thanh toán khá phổ biến ở nhiều nước, có ưu điểm là thuận lợi an toàn nhưng cũng không ít khó khăn cho ngưới sử dụng như phải làm thủ tục mua séc trắng và phải bảo quản chặt chẽ đồng thời với loại séc bảo chi phải ký gửi một khoản tiền dể đảm bảo thanh toán séc, nếu ký phát séc không đủ khả năng thanh toán ngoài việc phải trả số tiền truy đòi còn bị xử lý như bị cảnh cáo nếu vi phạm lần một,bị đình chỉ ký phát séc trong vòng ba tháng không bán séc trắng trong thời hạn trên và thu hồi séc trắng đã cung ứng nếu vi phạm làn thứ hai.Trường hợp vi phạm lần thứ ba ngoài phần sử phạt như trên còn bị đình chỉ vĩnh viễn và bị thông báo cho ngân hàng nhà nước. Lệnh chi hoặc Uỷ nhiệm chi Là lệnh chi tiền của chủ tài khoản yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản của mình trả cho người thụ hưởng.
Với cách sử dụng thuận tiện, đơn giản, uỷ nhiệm chi được dùng để thanh toán các khoản hàng hoá, dịch vụ hoặc chuyển tiền một cách rộng rãi và phổ biến trong cả nước. uỷ nhiệm chi thanh toán trong cùng một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, hoặc giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Điều kiện, thủ tục thanh toán, thời hạn thực hiện lệnh chi hoặc UNC (ủy nhiệm chi) do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thoả thuận với người sử dụng dịch vụ thanh toán phù hợp với quy định của NHNN. Uỷ nhiệm chi dưới dạng chứng từ giấy người trả tiền phải lập theo đúng mẫu, đủ số liên theo quy định hiện hành của NHTW.
Lệnh chi dưới dạng chứng từ điện tử phải đáp ứng các chuẩn dữ liệu theo đúng quy định tại quy chế lập,sử dụng, kiểm soát, xử lý,bảo quản và lưu trữ chứng từ điện tử.