phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài luận văn có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi. Chƣơng 2: Thực trạng về tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. 10 Chƣơng 1 NHỮN VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM VẤN CHO CHA MẸ TRON IÁO DỤC TRẺ EM TỪ 11 TUỔI ĐẾN 14 TUỔI 1.
Các khái niệm chính 1. Khái niệm về gia đình Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (sửa đổi năm 2014), gia đình đƣợc định nghĩa là “tập hợp những ngƣời gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dƣỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này” (Điều 3 Giải thích từ ngữ). Nhƣ vậy, khái niệm gia đình trong Luật pháp của Việt Nam quy định gia đình bao gồm ba hình thức: quan hệ do hôn nhân, ví dụ nhƣ vợ chồng, quan hệ huyết thống giữa ông bà, cha mẹ và con cái cùng huyết thống và cả quan hệ nuôi dƣỡng, ví dụ nhƣ con nuôi hay bố mẹ nuôi. Tác giả Mai Huy Bích đƣa ra một khái niệm tổng quát về gia đình nhƣ sau: “Gia đình là khái niệm đƣợc sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân (quan hệ tính giao và quan hệ tình cảm) và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha, mẹ, con cái, ông, bà, họ hàng nội ngoại)”.
Gia đình có thể hiểu nhƣ một đơn vị xã hội vi mô, nó chịu sự chi phối của xã hội, song có tính ổn định, độc lập tƣơng đối. Nó có quy luật phát triển riêng với tƣ cách một thiết chế xã hội đặc thù. Những thành viên gia đình đƣợc gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi kinh tế, văn hóa, tình cảm một cách hợp pháp, đƣợc Nhà nƣớc thừa nhận và bảo vệ. Nhƣ vậy, khái niệm về gia đình đƣợc diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau.
Những khái niệm này đều chứa đựng những điểm tƣơng đồng về quan hệ hôn nhân, huyết thống. Tuy nhiên, gia đình cần đƣợc hiểu mang tính bao quát không chỉ ở quan hệ hôn nhân, huyết thống mà cả quan hệ nuôi dƣỡng. Khái niệm Trẻ em; Phân chia giai đoạn phát triển của trẻ; Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ giai đoạn từ 11 đến 14 tuổi 1.1 Khái niệm Trẻ em Công ƣớc Quốc tế về quyền Trẻ em xác định trẻ em có nghĩa là bất kỳ ngƣời nào dƣới 18 tuổi, trừ trƣờng hợp pháp luật có thể đƣợc áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn. Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam (2004): trẻ em là công dân Việt Nam dƣới 16 tuổi; ngƣời chƣa thành niên là ngƣời dƣới 18 tuổi.
Theo Điều 1, Luật Trẻ em năm 2016 quy định: Trẻ em là ngƣời dƣới 16 tuổi. Khái niệm nêu trong Luật Trẻ em 2016 đƣợc áp dụng trong luận văn này.2 Phân chia giai đoạn phát triển của trẻ Erik Erikson – nhà tâm lý học phân tâm, đánh giá cao vai trò của tác nhân xã hội với sự phát triển tâm lý của con ngƣời. Ông chia đời ngƣời thành 8 giai đoạn. Trẻ em có 4 giai đoạn: Giai đoạn 1 (từ 0 – 1 tuổi), Giai đoạn 2 (từ hơn 1 – 3 tuổi), Giai đoạn 3 (từ 3 – 6 tuổi), Giai đoạn 4 (từ 6 – 12 tuổi), Giai đoạn 5: Vị thành niên (từ 13-18 tuổi)… Theo Tổ chức Y tế thế giới, lứa tuổi vị thành niên nằm trong khoảng từ 10 đến 19 tuổi, đƣợc chia thành ba thời kỳ phát triển: Vị thành niên sớm (từ 10 đến 13 tuổi); Vị thành niên giữa (từ 14 đến 16 tuổi); Vị thành niên muộn (từ 17 đến 19 tuổi).
Ngoài ra, ngƣời ta còn phân loại hai lớp ngƣời dựa theo tuổi là: Ngƣời trẻ tuổi (từ 10 đến 14 tuổi); Thanh niên (từ 15 đến 24 tuổi). Tuy nhiên sự lớn lên và trƣởng thành ở mỗi cá thể có thể diễn ra với mức độ khác nhau: Có em tuy ở tuổi 15 (lứa tuổi vị thành niên giữa) nhƣng cơ thể đã phát triển và có những hành vi ứng xử nhƣ những em ở lứa tuổi vị thành niên muộn (17 – 19 tuổi); ngƣợc lại, có những em tuy ở tuổi đó nhƣng vẫn chỉ có hành vi ứng xử nhƣ các em ở tuổi vị thành niên sớm. Điều này phụ thuộc vào các yếu tố sinh học (di truyền), tâm lý, các hoàn cảnh xã hội và văn hóa của từng dân tộc, từng vùng miền… Do đó, sự phân chia giai đoạn phát triển của trẻ chỉ có tính chất tƣơng đối. 12 Tóm lại, trong khuôn khổ của đề tài, tác giả sử dụng sự phân chia giai đoạn phát triển của trẻ theo quan điểm của Tổ chức Y tế Thế giới.
Trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi đƣợc hiểu trong giai đoạn vị thành niên sớm và đầu của giai đoạn vị thành niên giữa. Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con sang ngƣời lớn. Biểu hiện nổi bật ở lứa tuổi này là những thay đổi về tâm sinh lý, nhận thức và cảm xúc.3 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ giai đoạn từ 11 tuổi đến 14 tuổi Về mặt sinh lý, trẻ ở giai đoạn này có nhiều sự biến đổi nhƣ sự tăng về chiều cao, sự phát triển của các cơ quan sinh sản… khiến ngoại hình các em có những thay đổi. Các hoóc môn tạo nên chiều cao và những biến đổi cơ thể một phần đã đƣợc hình thành ngay từ giai đoạn phôi thai.
Nhƣng chúng đƣợc sản sinh mạnh mẽ vào khoảng 10 – 11 tuổi đối với nữ và 12 – 13 tuổi đối với nam tạo sự phát triển bùng phát về chiều cao và thể lực, kèm theo sự thay đổi về tỉ lệ của cơ thể. Tuyến nội tiết dƣới da hoạt động mạnh mẽ dẫn đến việc xuất hiện mụn trứng cá trên mặt, tuyến mồ hôi cũng làm việc tích cực và tạo ra thứ mùi đặc trƣng của cơ thể. Về mặt tâm lý, tình cảm các em bắt đầu có tƣ duy trừu tƣợng, ý thức đƣợc mình không còn là “trẻ con” nữa, muốn đƣợc ngƣời lớn tôn trọng và bắt đầu có những hành động muốn thử sức mình để khám phá những điều mới lạ nhằm khẳng định mình đã lớn. Các em thƣờng quan tâm đến những thay đổi của cơ thể khi so sánh với các bạn cùng lứa (đặc biệt là các em gái), dễ băn khoăn, lo lắng, buồn rầu về những nhƣợc điểm trên cơ thể mình.
Ở lứa tuổi này, các em bắt đầu phát triển tƣ duy trừu tƣợng một cách rõ rệt. Thích khám phá, tò mò, thử nghiệm những hành vi liên quan đến tính dục (tính cách thể hiện sự khác biệt giữa nam và nữ). Các em cũng bắt đầu quan tâm đến bè bạn, đặc biệt là bạn khác giới, muốn tách khỏi sự bảo hộ của bố mẹ, gia đình. Trẻ cũng không còn tâm sự với cha mẹ nhiều nhƣ khi còn nhỏ.
Tuy nhiên, các em còn quá trẻ, vẫn phải phụ thuộc vào ngƣời lớn. Đôi lúc, trẻ thất vọng, ấm ức vì cha mẹ chƣa nhận thấy mình đã lớn. Điều này khiến trẻ dễ bị những rối loạn liên quan đến cảm xúc và hành vi với những biểu hiện thích chống đối nhƣ: không thích vâng lời cha mẹ, hay lý sự, làm theo 13 ý mình, trốn học, bỏ nhà, hung bạo, muốn khẳng định tính độc lập… Đây là thời kỳ cha mẹ phải luôn quan tâm, gần gũi với con. Nếu cha mẹ ít gần gũi, thiếu giáo dục với con trẻ thì ngay những trẻ rất ngoan cũng dễ trở nên hƣ hỏng hoặc gặp bất trắc.
Tuy nhiên, không phải lúc nào sự thay đổi này của trẻ cũng nhận đƣợc sự thấu hiểu và nắm bắt kịp thời từ phía gia đình, cha mẹ và ngƣời lớn. Điều này làm cho các bậc cha mẹ gặp không ít khó khăn trong việc tiếp cận để tìm hiểu, giáo dục con trẻ. Trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi là giai đoạn trẻ phát triển mạnh về cơ thể, thay đổi tâm lý của bản thân nhƣ tâm lý thích phô trƣơng, muốn khẳng định bản thân, dễ bị lôi kéo, dụ dỗ… dẫn đến những hành vi sai lệch trong các mối quan hệ xã hội. Vì vậy, trẻ ở giai đoạn này rất cần sự chỉ bảo, hỗ trợ, động viên, tình yêu thƣơng của cha mẹ và những ngƣời thân thiết.
Cha mẹ cần có cách ứng xử phù hợp để giúp trẻ phát triển và vƣợt qua những khó khăn của giai đoạn này. Giáo dục gia đình và giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi 1.1 Giáo dục gia đình Về mặt giải thích thuật ngữ, đƣợc hiểu chung là toàn bộ những tác động của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con ngƣời, trƣớc hết của lớp trẻ. Trẻ không thể có sự hình thành và phát triển nhân cách một cách đầy đủ và bền vững nếu không có một môi trƣờng giáo dục gia đình thuận lợi. Đó là một dạng giáo dục đặc biệt của xã hội loài ngƣời.
Với mỗi cá nhân, quá trình hình thành và hoàn thiện nhân cách đƣợc xây dựng trên cơ sở tiếp nhận kiến thức từ 3 hệ thống giáo dục: Gia đình – Nhà trƣờng – Xã hội. Trong đó, giáo dục gia đình là môi trƣờng đầu tiên, có tính quyết định trong việc hình thành nên tính cách của một đứa trẻ - một con ngƣời. Môi trƣờng giáo dục nhà trƣờng và xã hội là các nhân tố quan trọng giúp định hình và hoàn thiện nhân cách đã có đƣợc từ giáo dục gia đình. Giáo dục gia đình còn bao hàm cả tự giáo dục.
Giáo dục gia đình đƣợc thực hiện thông qua cách thức tổ chức đời sống gia đình, quá trình chăm sóc trẻ, tổ chức các hoạt động của trẻ và cơ bản là dựa trên nền tảng của sự gƣơng mẫu, sự nêu gƣơng của các bậc ông bà, cha, mẹ.2 Giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi 14 Gia đình là nơi thực hiện chức năng giáo dục trẻ. Môi trƣờng gia đình là nơi giúp trẻ em hình thành nhân cách, lối sống và đặc biệt là nhân sinh quan. Theo Điều 72 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (sửa đổi năm 2014) quy định: “Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.