CHƯƠNG 1: NGUON GÓC HOAT ĐỘNG THÁM SÁT NGƯỜI DO THÁI CUA ĐỨC QUOC XÃ TẠI BA LAN (1939 - 1945) 1. Nguồn gốc của chủ nghĩa bài Do Thái tại Châu Âu Chủ nghĩa bài Do Thái tại Châu Âu là một sự thù địch và phân biệt đối xử đối với người Do Thái với tư cách là một nhóm tôn giáo hoặc một nhóm chủng tộc. Chủ nghĩa bài Do Thái tại Châu Âu thời cô đại dựa trên sự phân biệt tôn giáo chống lại người Do Thái. Tôn giáo chính trong xã hội La Mã thời cô đại là tôn giáo đa thần và hoàng dé của La Mã được xem như một vị than.
Tuy nhiên, Do Thái giáo chi thờ một vị thần duy nhất là Thiên chúa và họ từ chối tôn thờ các vị thần khác. Người La Mã coi việc người Do Thái từ chối tôn thờ các hoàng dé của La Mã như một vi than là biéu hiện của sự bất trung (Britannica, nd, Anti - Semitism). Chủ nghĩa bài Do Thái tại Châu Âu thời cô đại cũng đến từ sự thủ địch của những người theo Kito giáo đỗi với người theo Do Thái giáo. Những người theo Kito giáo tại Châu Âu thời cô đại và trung đại cho rằng người Do Thái chịu trách nhiệm về cái chết của Chúa Jesus.
Khi Kito giáo trở thành quốc giáo của La mã vào thé kỷ IV, người Do Thái ngày càng bị hạn chế quyền tự do. Qua nhiều thé kỷ, định kiến của những người theo Kito giáo về người Do Thai dan được phát triển. Người Do Thái bị nhìn nhận như một nhóm người tham lam, quỷ quyệt, lạc hậu, lười biếng, ham tiền và ham muốn tinh đục quá mức (Yad Vashem, nd, Anti Semitism). Sang thời trung đại, những người theo Kito giáo đã chỉ trích những người Do Thái là “những kẻ phản loạn chống lại Chúa và là những kẻ giết Chúa ” (Paul.
Hau hết người Do Thái bị từ chỗi quyền của một người dân bình thường, họ bị cam giữ các chức vụ trong chính phủ và quân đội, đồng thời bị loại khỏi tư cách thành viên trong các hội đoàn và ngành nghẻ. Vào thé ky XII, một số quốc gia Châu Âu buộc người Do Thái phải buộc tam vải hiệu màu vàng và họ bị đưa vào các ghetto - là những khu biệt cư dành riêng cho người Do Thái có tường cao bao xung quanh (Britannica, nd, Anti - Semitism). Trên thực tế, người Do Thai vẫn được phép làm ăn buôn bán vào ban ngày ở những nơi xa xôi bat tiện, ban đêm họ phải trở về các ghetto (Paul. Những hình thức phân biệt người Do Thái trên đều được Dức Quốc xã áp dụng sau này.
Sang thế kỷ XVI, Martin Luther một giáo sĩ vùng Saxony (nay là một bang của Dức) đã đề ra phong trào cải cách Kito giáo. Luther đã diễn giải Kinh Thánh theo cách của ông ay và phản đối các luật lệ của Giáo hoàng. Người Do Thái đã hưởng ứng phong trào cải cách tôn giáo của Luther (Paul. Thời gian đầu, Martin Luther 2 Chúa Jesus là những người theo đạo Do Thai và Kito giáo bắt nguồn từ sự dạy dé của người Do Thai vẻ thuyết độc thắn, nhưng Do Thai giáo va Kito giáo đã trở thành đổi thủ của nhau ngày sau khí Chúa Jesus bị đóng đỉnh bởi người Do Thái yêu cau xứ từ chùa Jesus.
11 đã bay to những thái độ tích cực với người Do Thái. Tuy nhiên khi Luther khuyên người Do Thái nên cải giáo theo Kito giáo, người Do Thái đã từ chối. Năm 1543, Martin Luther đã viết một cuốn sách chỉ trích người Do Thái có tên là “Von der Juden und ihren Lugen” (Về người Do Thái và những lời déi tra của họ) (Paul. Những quan điểm của Martin Luther đều được Đức Quốc xã sử dụng trong các bai tuyên truyền chồng người Do Thái sau này.
Martin Luther đã dùng những ngôn từ va có những lời kêu gọi đối xử cực đoan với người Do Thái. Đầu tiên, ông kêu gọi phải đốt hết giáo đường của người Do Thái, và phải chôn những tản tích của người Do Thái còn sót lại xuống dat. Sau đó người Do Thái sé bị xử lý, nhà của họ sé bị đập bó và phá hay. Người Do Thái sẽ bị cam ra đường và vao chợ, tải sản của họ sẽ bị tịch thu, rồi phái cho họ nay đi lao động khô sai để kiếm cái ăn.
Cuối cùng, họ phải bị đuôi khỏi vùng Saxony* (Paul. Bên cạnh đó, trong bài đả kích người Do Thái của minh, Luther còn tập trung vào nghé nghiệp của người Do Thái, đặc biệt là nghề cho vay lãi. Luther viết rằng: Người [Do Thái] cho vay lãi là một tên trộm vả tên giết người. Bất cứ ai ăn hết, làm hong và đánh cắp đồ ăn của người khác, thì người [Do Thai] đó coi như phạm tội giết người, như bỏ đói một người hay hại chết người khác.
Người [Do Thái] cho vay lãi làm như vậy, và ngôi đó ung dung trên ghế khi lẽ ra phải bị treo có trên giá, ăn cướp được bao nhiêu đồng thi dé cho bay nhiêu qua ria xác. Chúng ta phải săn lùng, nguyễn rủa vả chặt đầu tắt cá những kẻ [Do Thái] cho vay nặng lãi. Đến cuối the ky XVII, đầu the ky XIX, tại Châu Âu xuất hiện Trào lưu Khai sáng (Enlightenment) - một phong trào triết học dựa trên lý trí và khoa học thay cho nền triết học kinh viện dựa trên những giáo luật của tôn giáo. Đi kèm với trào lưu này là sự tiễn bộ xã hội va chính trị.
Một số chính sách, phong tục và luật pháp của các chính phủ tại Châu Âu tách biệt người Do Thái với xã hội thời trung đại dần được dỡ bỏ. Tuy nhiên, chú nghĩa bai Do Thái không biến mat, những nha tư tưởng trong Trào lưu Khai sáng không còn đô lỗi cho người Do Thái là những người giết Chúa Jesus, mà thay vào đó một số người coi người Do Thái là một nhóm xa lánh xã hội, thực hành một tôn giáo nguyên thủy và mê tín (Paul. Vào cuối thé ky XIX, sau những cuộc chỉnh phat của Hoàng để nước Pháp - Napolcon I, chủ nghĩa dan tộc dân được hình thành ở Châu Âu. Bên cạnh đó, việc những người Châu Âu đã thuộc địa hóa thành công các vùng đất tại Châu Mỹ, Châu Á và Châu Phi đã củng có cho người Châu Âu răng “chủng tộc da tring” là một chủng tộc có tính ưu việt (United States Holocaust Memorial Museum, nd, Antisemitism in history: Racial antisemitism, 1875 -1945).
Điều này được củng có khi nha tự nhiên học người Anh Charles Darwin (1809 - 1882) công bố cuốn sách On the Origin of Species (Nguồn Năm 1537, người Do Thai bị trục xuất khỏi Saxony và vào những năm 1540, người Do Thái bị đuôi ra khỏi nhiều công quốc nói tiếng Đức. 12 góc các loài) năm 1859, những lý thuyết trong cuốn sách nay sau đó được giới học giả Châu Âu gọi là Học thuyết Darwin. Dựa trên những ý tưởng vẻ tién hóa của nhà tự nhiên học người Anh Charles Darwin‘, một số nhà khoa học đã lý giải rằng con người không phải là một loài mả được chia thành nhiều “chủng tộc” khác nhau được thúc đây về mặt sinh học đề đấu tranh chống lại nhau dé gianh không gian sống nhằm đảm bao sự sông còn của họ. Chỉ những “chung tộc” có phẩm chất vượt trội mới có thé giảnh chiến thắng trong cuộc dau tranh vĩnh cửu được thực hiện bằng vũ lực và chiến tranh này (United States Holocaust Memorial Muscum, nd, Antisemitism in history: Racial antisemitism, 1875 -1945).
Dựa trên học thuyết của Darwin, một số nhà khoa học bai Do Thái cực đoan đã tuyên bố rằng người Do Thái là “chang tộc” thấp kém trong quá trình tiền hóa của loài người. Họ lập luận rằng người Do Thái không chỉ truyền bá những ảnh hưởng độc hại để làm suy yếu các quốc gia ở Châu Âu băng các phương pháp chính trị, kinh tế và truyền thông, mà còn lây truyền những đặc tính di truyền xấu cho người Châu Âu. Những người Châu Âu bài Do Thái cực đoan cho rằng việc người Do Thái cổ gắng làm suy yêu những người Châu Âu là một phan trong kế hoạch thống trị thé giới của người Do Thái (Yad Vashem, nd, Anti Semitism). Như vậy, vào cuối thế ky XIX, chủ nghĩa bài Do Thái tại Châu Au đã chuyên từ sự phân biệt tôn giáo thành sự phân biệt chủng tộc.
Mặc dù người Châu Âu không còn xem người Do Thái như “nhimg người giết Chúa Jesus”. Tuy nhiên, những người bai Do Thái cực đoan vẫn dựa vào hình ảnh và khuôn mẫu tôn giáo dé xác định hành vi di truyền của người Do Thái là những con người xấu xa, lừa lọc, và những đặc điểm của người Do Thái được cho là đã được truyền tử thé hệ nay sang thế hệ khác. Vì người Do Thai không chi là một nhóm tôn giáo ma còn là một chủng tộc (Britannica, nd, Anti - Semitism). Thế nên, chủ nghĩa bài Do Thái vẫn tiếp tục được phát triển tại Châu Âu.
Chủ nghĩa bài Do Thái tại Đức, Áo - Hung từ cuối thế kỷ XIX đến trước tháng 9/1939 và tình hình nước Đức giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. Chủ nghĩa bài Do Thái tại Đức, Áo - Hung (cuối thé ky XIX - những năm đầu thé kỷ XX) Vào cuối thế kỷ XIX, một phong trào đân tộc chủ nghĩa tại Dức được hình thành, gọi là phong trào Volkisch. Các nhà tư tưởng Dức của phong trào Volkisch vào cuối thé ky XIX như Arthur de Gobineau (1§16—18§2), Georges Vacher de Lapouge (1854— 1936) đã dựa vào Thuyết tiền hóa của Charles Darwin trong việc chon lọc tự nhiên giữa các giống loài dé lập luận rằng dân tộc Aryan (người Đức) là dân tộc đứng đầu thé giới, vượt trội hơn các dan tộc khác (Dohe. Những người trong phong Ý Thuyết tiển hóa cho rằng các giống loài tiễn hóa thông qua quá trình đấu tranh sinh tổn, trong đó giống loài nào thông minh hơn, khỏe mạnh hơn, thích nghi với môi trường tắt hơn sẽ là giỏng loài tồn tại, giếng loài nào ốm yếu, kém thích nghỉ với mỗi trường sẽ bị đảo thai (Britannica, nd, Natural selection).
13 trào Volkisch thường coi người Do Thai là một “dan tộc xa lạ” thuộc một chủng tộc khác với người Đức (Joseph. Phong trào Volkisch đồ lỗi cho người Do Thai đã phá hoại lỗi sông truyền thông của người Đức và tuyên bé rằng người Do Thái ở Đức không thực sự là một phan của Người Đức. Nam 1879, Wilhelm Marr (1819 -1904), một nhà văn người Duc, đã sử dụng thuật ngữ “chủ nghĩa bài Do Thai” trong cuôn sách Chiến thắng của đạo Do Thái trước nước Đức.