Tổng quan nghiên cứu

Vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Việt Nam chiếm bình quân 25-30% GDP, kéo theo hàng nghìn dự án xây dựng công trình được triển khai mỗi năm, đặc biệt là hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ. Với vị thế trung tâm chính trị - văn hóa, Hà Nội là địa bàn tập trung mật độ dự án trọng điểm cao nhất cả nước. Trong bối cảnh đó, thẩm định thiết kế - dự toán (TK-DT) trở thành mắt xích quyết định hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, bởi đây là căn cứ trực tiếp để xác định giá gói thầu, lựa chọn nhà thầu và triển khai thi công.

Luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Mai Hương (Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018, mã số 60 34 04 10, hướng dẫn khoa học PGS.TS Lê Quân) tập trung phân tích công tác thẩm định TK-DT công trình xây dựng sử dụng ngân sách nhà nước tại Ban quản lý các dự án Trọng điểm phát triển đô thị Hà Nội (MPMU). Phạm vi nghiên cứu trải dài 11 năm, từ 2006 đến 2016, với đối tượng khảo sát là các dự án hạ tầng giao thông đô thị và dự án trọng điểm mà MPMU làm chủ đầu tư.

Vấn đề nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn bất cập: thiết kế bản vẽ thi công phải điều chỉnh bổ sung nhiều lần, dự toán liên tục phải cập nhật đơn giá thời điểm, chi phí một số dự án vượt tổng mức đầu tư đã duyệt, và công tác chuẩn bị đầu tư kéo dài. Từ quy mô quản lý gần 100 biên chế, giải ngân gần 1.000 tỷ đồng mỗi năm và danh mục dự án đang thực hiện có tổng vốn 3.446 tỷ đồng, mỗi phần trăm sai lệch trong thẩm định đều tương ứng với hàng chục tỷ đồng ngân sách. Mục tiêu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định TK-DT tại MPMU, qua đó góp phần chống thất thoát, lãng phí và phân định rõ trách nhiệm các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng khung phân tích dựa trên hai nền tảng lý thuyết chính. Thứ nhất là lý thuyết quản lý dự án đầu tư xây dựng theo chuẩn quốc tế, cụ thể là định nghĩa dự án của Viện Nghiên cứu Quản lý dự án quốc tế (PMI) với hai đặc tính "tạm thời" và "duy nhất", kết hợp tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2000 xem dự án là quá trình đơn nhất bị ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực. Thứ hai là lý thuyết quản lý kinh tế nhà nước đối với vốn ngân sách, vận dụng hệ thống văn bản pháp lý gồm Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, Nghị định 59/2015/NĐ-CP và Nghị định 32/2015/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

Năm khái niệm cốt lõi được làm rõ. Thẩm định là việc kiểm tra, đánh giá của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư hoặc cơ quan chuyên môn (Điều 3 mục 36 Luật Xây dựng 2014). Thẩm tra là hoạt động kiểm tra chuyên môn của tổ chức có đủ năng lực, làm cơ sở cho thẩm định (Điều 3 mục 37). Dự toán xây dựng công trình gồm 6 thành phần chi phí: xây dựng, thiết bị, quản lý dự án, tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác và dự phòng. Thiết kế xây dựng phân theo 4 cấp độ từ thiết kế sơ bộ, cơ sở, kỹ thuật đến bản vẽ thi công, triển khai theo mô hình một bước, hai bước hoặc ba bước tùy quy mô và cấp công trình.

Mô hình đánh giá của luận văn gồm 5 tiêu chí: tuân thủ pháp luật; năng lực và công tác lựa chọn tư vấn; thời gian hoàn thành thẩm định; chất lượng hồ sơ sau thẩm định (đo bằng mức phát sinh khối lượng và chi phí khi thi công); và chất lượng lưu trữ hồ sơ. Song song là 7 nhóm nhân tố ảnh hưởng: lựa chọn tư vấn, môi trường pháp luật, thông tin, quy trình thẩm định, đội ngũ cán bộ, tổ chức công tác thẩm định và hệ thống trang thiết bị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng hoàn toàn dữ liệu thứ cấp, không thực hiện khảo sát sơ cấp. Nguồn dữ liệu gồm ba nhóm: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng và quản lý chi phí; các công trình khoa học đã công bố; và hồ sơ nội bộ MPMU gồm báo cáo giám sát đánh giá đầu tư, hồ sơ thẩm định TK-DT, dữ liệu nhân sự giai đoạn 2006-2016. Cỡ mẫu là toàn bộ danh mục dự án MPMU làm chủ đầu tư trong 11 năm - đây là phương pháp chọn mẫu toàn bộ (tổng thể), phù hợp vì số lượng dự án trọng điểm hữu hạn và mỗi dự án là một trường hợp đặc thù không thể suy rộng thống kê từ mẫu nhỏ.

Bốn phương pháp xử lý được vận dụng. Thống kê mô tả hệ thống hóa dữ liệu thành bảng biểu và biểu đồ, ví dụ Bảng 3.2 tổng hợp trình độ theo thâm niên cán bộ năm 2016 và Bảng 3.3 tổng hợp kết quả thực hiện thẩm định TK-DT. Phân tích - tổng hợp chia nhỏ đối tượng thành các nội dung cấu thành rồi khái quát lại, áp dụng xuyên suốt Chương 1 và Chương 3. So sánh đối chiếu chất lượng đội ngũ cán bộ qua các mốc thời gian 2009-2016 theo bốn chỉ tiêu: trình độ đào tạo, cơ cấu chuyên môn, kinh nghiệm công tác và công tác bồi dưỡng. Phân loại và hệ thống hóa lý thuyết sắp xếp tài liệu thành hệ thống logic phục vụ xây dựng khung phân tích.

Lý do lựa chọn nhóm phương pháp định tính - mô tả thay vì mô hình kinh tế lượng nằm ở bản chất đối tượng: công tác thẩm định là quy trình hành chính - kỹ thuật, các biến số như "chất lượng hồ sơ" hay "năng lực cán bộ" khó lượng hóa thành biến liên tục, trong khi số quan sát dự án quá nhỏ để bảo đảm ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu cũng bổ sung phương pháp nghiên cứu điển hình (case study) qua khảo sát kinh nghiệm tại hai đơn vị tương đồng để đối chiếu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mô hình tổ chức thẩm định tại MPMU thiếu tính độc lập. Từ 3 phòng chuyên môn với 30 biên chế khi thành lập theo Quyết định 106/1999/QĐ-UB, Ban đã mở rộng thành 7 phòng với gần 100 biên chế - tăng hơn 230% về nhân sự sau khoảng 17 năm. Tuy nhiên công tác thẩm định vẫn chưa được tách thành đơn vị chuyên trách độc lập. So sánh với Ban quản lý dự án Hạ tầng Tả ngạn, nơi bộ phận thẩm định cũng chỉ là một mảng của phòng Thực hiện dự án với 8 cán bộ, và Ban quản lý dự án Giao thông đô thị thuộc Sở Giao thông vận tải Hà Nội có Phòng Thẩm định riêng nhưng chỉ 5-6 cán bộ kiêm nhiệm cả kiểm tra quyết toán - cả ba mô hình đều bộc lộ tình trạng nhân lực thẩm định mỏng so với khối lượng công việc.

Thứ hai, năng lực đội ngũ cán bộ là điểm nghẽn lớn nhất. Dữ liệu cơ cấu trình độ và thâm niên giai đoạn 2009-2016 cho thấy Ban thiếu hụt cán bộ kỹ thuật chuyên sâu về cầu đường, cấp thoát nước - những chuyên ngành trực tiếp quyết định khả năng kiểm soát giải pháp thiết kế và biện pháp thi công. Nhóm cán bộ có trình độ cao và kinh nghiệm dày phần lớn thuộc diện lớn tuổi và đã chuyển sang công tác quản lý, tạo khoảng trống thế hệ. Nguyên nhân gốc là mức lương thấp do định mức chi phí ban quản lý dự án thấp, khiến khó tuyển được nhân sự đủ năng lực.

Thứ ba, chất lượng hồ sơ sau thẩm định chưa đạt yêu cầu. Thực trạng ghi nhận thiết kế bản vẽ thi công không phù hợp phải điều chỉnh bổ sung, dự toán phải cập nhật đơn giá theo thời điểm và phát sinh nhiều khối lượng ngoài dự kiến. Một số dự án có chi phí đầu tư vượt tổng mức đầu tư được duyệt. Nếu biểu diễn dữ liệu này dưới dạng biểu đồ cột chồng theo từng dự án, phân tách giá trị dự toán duyệt ban đầu và giá trị điều chỉnh, mức độ chênh lệch giữa các nhóm dự án sẽ trở nên trực quan.

Thứ tư, công tác tuyển dụng và lưu trữ hồ sơ còn hình thức. Tuyển dụng chủ yếu qua xét tuyển thay vì thi tuyển, kế hoạch tuyển dụng chưa cụ thể, dẫn tới tình trạng chưa đúng người đúng việc. Hồ sơ khảo sát giai đoạn chuẩn bị đầu tư chưa được lưu trữ khoa học, gây khó khăn cho việc kế thừa dữ liệu ở bước thẩm định TK-DT.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của các hạn chế nằm ở mâu thuẫn giữa yêu cầu chuyên môn hóa cao của công tác thẩm định và cơ chế tài chính đơn vị sự nghiệp. Thẩm định TK-DT đòi hỏi cán bộ đồng thời nắm vững quy chuẩn kỹ thuật, hệ thống định mức - đơn giá, và các chế độ chính sách liên quan, nhưng định mức chi phí quản lý dự án không đủ để trả lương cạnh tranh với khu vực tư vấn tư nhân. Đây là vấn đề mang tính hệ thống, không riêng MPMU.

Một nguyên nhân khách quan khác là môi trường pháp lý biến động. Chỉ trong khoảng 15 năm, khung pháp lý đã trải qua nhiều lần thay thế lớn: từ Nghị định 52/1999/NĐ-CP, Luật Xây dựng 16/2003/QH11, Nghị định 112/2009/NĐ-CP đến Luật Xây dựng 50/2014/QH13 và Nghị định 32/2015/NĐ-CP. Mỗi lần thay đổi kéo theo điều chỉnh nội dung, thẩm quyền và quy trình thẩm định, tạo áp lực cập nhật liên tục lên cán bộ.

Kết quả này tương đồng với nhận định trong nghiên cứu của Nguyễn Công Nghiệp (2009) về nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, khi tác giả nhấn mạnh phải thực hiện nghiêm các bước lập - thẩm định - giám sát - quyết toán dự án. Luận văn của Phạm Tiến Lâm (2016) tại Trường Đại học Thủy lợi cũng chỉ ra vấn đề chất lượng hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công tương tự ở lĩnh vực thủy lợi, cho thấy đây là bất cập phổ biến chứ không đặc thù ngành giao thông đô thị.

Ý nghĩa thực tiễn nằm ở chỗ: với quy mô giải ngân gần 1.000 tỷ đồng mỗi năm, việc kiểm soát tốt hơn chỉ 2-3% giá trị dự toán thông qua thẩm định chặt chẽ đã tương đương tiết kiệm 20-30 tỷ đồng ngân sách hằng năm. Đóng góp mới của luận văn là lấp khoảng trống nghiên cứu - trước đó chưa có công trình nào phân tích chuyên biệt hoạt động thẩm định TK-DT tại MPMU với tư cách chủ đầu tư.

Đề xuất và khuyến nghị

Nâng cao chất lượng và năng lực đội ngũ cán bộ thẩm định. MPMU cần xây dựng lộ trình để 100% cán bộ trực tiếp làm công tác thẩm định sở hữu chứng chỉ hành nghề phù hợp - chứng chỉ tư vấn thiết kế, chứng chỉ kỹ sư định giá, chứng chỉ quản lý dự án - trong vòng 24 tháng. Đồng thời chuyển từ xét tuyển sang thi tuyển cạnh tranh, ưu tiên bổ sung kỹ sư chuyên ngành cầu đường và cấp thoát nước. Chủ thể thực hiện: phòng Hành chính - Tổng hợp - Tổ chức, dưới chỉ đạo trực tiếp của Ban lãnh đạo.

Hoàn thiện công tác lựa chọn tư vấn thiết kế và tư vấn thẩm tra. Cần ban hành bộ tiêu chí chấm điểm năng lực nhà thầu tư vấn có trọng số rõ ràng cho kinh nghiệm dự án tương tự và nhân sự chủ trì, thay vì chỉ xét điều kiện tối thiểu. Bổ sung điều khoản chế tài trong hợp đồng tư vấn gắn trách nhiệm bồi thường khi hồ sơ TK-DT gây phát sinh khối lượng. Mục tiêu: giảm tối thiểu 30% số lần điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công trong 2 năm đầu áp dụng. Chủ thể: phòng Thực hiện dự án phối hợp phòng Kế hoạch.

Lập kế hoạch chi tiết cho công tác thẩm định. Áp dụng biểu mẫu báo cáo tình hình và kế hoạch thực hiện công việc (mẫu Bảng 4.1 của luận văn) theo chu kỳ hằng tuần, đồng bộ ba trục: tiến độ thẩm định - tiến độ thi công hiện trường - kế hoạch bố trí vốn. Mỗi hồ sơ cần được ấn định mốc thời gian cụ thể tính từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Chủ thể: lãnh đạo phòng chuyên môn, báo cáo Giám đốc Ban hằng tháng.

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và ứng dụng phần mềm. Bố trí nguồn kinh phí thường niên để trang bị phần mềm dự toán và phần mềm thiết kế chuyên dụng có bản quyền, cùng hệ thống lưu trữ hồ sơ điện tử tập trung. Ứng dụng phần mềm giúp rút ngắn đáng kể thời gian kiểm tra khối lượng và đối chiếu đơn giá, đồng thời bảo đảm hồ sơ giai đoạn chuẩn bị đầu tư được kế thừa mà không thất lạc. Timeline triển khai: 12-18 tháng.

Hoàn thiện nội dung dự toán và bổ sung các khoản chi phí còn thiếu. Rà soát đầy đủ 6 nhóm chi phí theo Điều 8 Nghị định 32/2015/NĐ-CP, đặc biệt chú trọng chi phí hạng mục chung thường bị bỏ sót như chi phí bảo đảm an toàn giao thông phục vụ thi công và chi phí hoàn trả hạ tầng kỹ thuật bị ảnh hưởng - hai khoản mục đặc thù của dự án giao thông đô thị nội đô. Chủ thể: bộ phận thẩm định dự toán, thực hiện ngay từ chu kỳ dự án kế tiếp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ, viên chức tại các ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách. Đây là nhóm hưởng lợi trực tiếp nhất. Luận văn cung cấp bộ 5 tiêu chí đánh giá công tác thẩm định và quy trình tổ chức thẩm định TK-DT đã được kiểm nghiệm thực tế (Hình 3.6), có thể dùng làm mẫu đối chiếu để tự rà soát quy trình nội bộ đơn vị mình. Phần phân tích 7 nhân tố ảnh hưởng đặc biệt hữu ích khi cần truy nguyên nguyên nhân của một hồ sơ thẩm định chậm hoặc sai sót.

Học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế xây dựng, Quản lý dự án. Luận văn là mẫu tham khảo hoàn chỉnh về cấu trúc nghiên cứu ứng dụng bốn chương, với phần cơ sở lý luận hệ thống hóa đầy đủ hệ thống khái niệm pháp lý qua các thời kỳ - từ Nghị định 52/1999 đến Luật Xây dựng 2014. Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp kết hợp case study là mô hình phù hợp cho các đề tài định hướng ứng dụng tương tự.

Doanh nghiệp tư vấn thiết kế và tư vấn thẩm tra xây dựng. Nhóm này có thể sử dụng phần nội dung thẩm định thiết kế và nội dung thẩm định dự toán làm checklist tự kiểm tra hồ sơ trước khi trình chủ đầu tư, qua đó giảm số vòng chỉnh sửa. Phần phân tích trách nhiệm nhà thầu tư vấn giúp doanh nghiệp lường trước rủi ro pháp lý khi hồ sơ gây phát sinh.

Cán bộ hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng. Các phát hiện về bất cập định mức chi phí quản lý dự án và tình trạng biến động khung pháp lý là dữ liệu tham chiếu cho việc đề xuất sửa đổi cơ chế tài chính đối với ban quản lý dự án chuyên ngành.

Câu hỏi thường gặp

Thẩm định và thẩm tra khác nhau như thế nào? Theo Điều 3 Luật Xây dựng 2014, thẩm định (mục 36) là hoạt động kiểm tra, đánh giá của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư hoặc cơ quan chuyên môn về xây dựng, làm cơ sở để phê duyệt. Thẩm tra (mục 37) là hoạt động kiểm tra chuyên môn do tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng thực hiện, kết quả thẩm tra chỉ là đầu vào phục vụ công tác thẩm định. Nói ngắn gọn, thẩm tra là bước kỹ thuật, thẩm định là bước ra quyết định.

Dự toán xây dựng công trình gồm những khoản chi phí nào? Theo Điều 8 Nghị định 32/2015/NĐ-CP, dự toán gồm 6 nhóm: chi phí xây dựng (trực tiếp, chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế GTGT); chi phí thiết bị; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn đầu tư xây dựng; chi phí khác gồm hạng mục chung; và chi phí dự phòng cho khối lượng phát sinh và yếu tố trượt giá. Với dự án nhiều công trình, chủ đầu tư có thể lập tổng dự toán bằng cách cộng dự toán các công trình và chi phí liên quan.

Vì sao dự án hạ tầng đô thị hay bị vượt tổng mức đầu tư? Luận văn chỉ ra ba nhóm nguyên nhân: thiết kế bản vẽ thi công không phù hợp thực địa phải điều chỉnh; dự toán lập theo đơn giá cũ phải cập nhật theo thời điểm khi thời gian chuẩn bị đầu tư kéo dài; và phát sinh khối lượng do bỏ sót hạng mục trong khâu đo bóc. Đặc thù dự án nội đô Hà Nội với công tác giải phóng mặt bằng phức tạp càng khuếch đại các nguyên nhân này.

Đội ngũ cán bộ ảnh hưởng ra sao tới chất lượng thẩm định? Đây là nhân tố mang tính quyết định vì kết quả thẩm định là sản phẩm của nhận định chủ quan con người. Cán bộ cần hội tụ bốn yếu tố: kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn, năng lực xử lý và phẩm chất đạo đức. Thực tế tại MPMU cho thấy khi thiếu kỹ sư chuyên ngành cầu đường, việc kiểm soát giải pháp thiết kế và biện pháp thi công bị hạn chế rõ rệt, dẫn tới hồ sơ phải điều chỉnh sau khi đã phê duyệt.

Bài học từ các ban quản lý khác có áp dụng được không? Có, nhưng cần điều chỉnh theo chức năng nhiệm vụ. Ban Hạ tầng Tả ngạn đã thành lập Phòng Thẩm định độc lập để rà soát chéo hồ sơ của phòng Thực hiện dự án - mô hình này áp dụng tốt cho MPMU. Ngược lại mô hình của Ban Giao thông đô thị, nơi chỉ thẩm định dự án nhóm C còn nhóm B trở lên do Sở thực hiện, không phù hợp vì MPMU được giao trực tiếp các dự án trọng điểm quy mô lớn.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thẩm định TK-DT công trình xây dựng sử dụng ngân sách nhà nước, xây dựng khung phân tích gồm 5 tiêu chí đánh giá và 7 nhân tố ảnh hưởng có thể áp dụng cho các ban quản lý dự án tương tự.

  • Nghiên cứu lấp khoảng trống học thuật khi lần đầu phân tích chuyên biệt hoạt động thẩm định TK-DT tại MPMU trong giai đoạn 2006-2016, đơn vị quản lý danh mục dự án 3.446 tỷ đồng với mức giải ngân gần 1.000 tỷ đồng mỗi năm.

  • Ba hạn chế cốt lõi được nhận diện: bộ phận thẩm định thiếu tính độc lập, đội ngũ cán bộ thiếu về số lượng và yếu về chuyên ngành kỹ thuật, và hồ sơ sau thẩm định vẫn phát sinh điều chỉnh khối lượng, chi phí.

  • Năm nhóm giải pháp được đề xuất theo lộ trình 12-24 tháng, tập trung vào nâng cao năng lực nhân sự, siết chặt lựa chọn tư vấn, kế hoạch hóa công tác thẩm định, ứng dụng phần mềm chuyên dụng và hoàn thiện nội dung dự toán.

  • Bước tiếp theo cần thiết là xây dựng bộ chỉ số đo lường định lượng hiệu quả thẩm định và mở rộng nghiên cứu sang giai đoạn sau 2016 khi khung pháp lý mới đã vận hành ổn định.

Với các đơn vị đang quản lý vốn đầu tư công trong lĩnh vực hạ tầng đô thị, luận văn là tài liệu tham chiếu thiết thực để rà soát và tái thiết kế quy trình thẩm định nội bộ theo hướng chuyên nghiệp hóa.