Chương 1: Giới thiệu đề tài, trong chương này, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu cũng như kết cấu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết, trong chương này tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu trước đây trên thế giới có liên quan đến định giá cổ phần, các mô hình thẩm định giá vốn cổ phần doanh nghiệp thuộc ngành có tính chu kỳ và không có tính chu kỳ. Trên cơ sở này, tác giả xây dựng mô hình và thực hiện kiểm định với dữ liệu thu thập từ các công ty niêm yết thuộc ngành khoáng sản, thép, cao su, dược – y tế - hóa chất và thực phẩm về các mô hình ước tính giá vốn cổ phần như: mô hình bội số (PE), mô hình chiết khấu dòng tiền cổ tức (DDM) và mô hình thu nhập thặng dư (RIVM). Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày tiến trình thực hiện nghiên cứu, cách trích xuất dữ liệu, xử lý số liệu, mô hình và mô tả các biến sử dụng trong nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày kết quả nghiên cứu và kết quả kiểm định mô hình thẩm định giá vốn cổ phần nào phù hợp so với giá thực tế vốn cổ phần cho các công ty niêm yết thuộc ngành khoáng sản, thép, cao su, dược- y tê – hóa chất và thực phẩm tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2016. Để từ đó, tác giả so sánh kết quả thu được với kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đó. Chương 5: Kết luận và kiến nghị, trong chương này tác giả tổng kết các vấn đề nghiên cứu, các hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Trong phần này, tác giả trình bày một cách tổng quan ngắn gọn về các khái niệm của lý thuyết chính liên quan đến nghiên cứu chu kỳ kinh tế lâu đời nhất (Keynes 1936) đến những thuyết gần đây nhất (Lý thuyết Ngoại tác những năm 90).
Bên cạnh đó, tác giả trình bày các khái niệm liên quan đến doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp, cách tiếp cận và các mô hình ước tính giá cổ phần của doanh nghiệp liên quan đến đề tài.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHU KỲ KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP 2.1 LÝ THUYẾT CHU KỲ KINH TẾ 2.1 Khái niệm về chu kỳ kinh tế Có nhiều quan điểm đưa ra các khái niệm về chu kỳ kinh tế (1) Chu kỳ kinh tế còn được gọi là chu kỳ kinh doanh đó là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ). (2) Quan điểm khác cho rằng pha phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh chỉ gồm hai pha chính là suy thoái và hưng thịnh (hay mở rộng) Các pha của chu kỳ kinh tế Hình 2.1: Pha chu kỳ kinh tế Nguồn: www.org/cycles LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Dựa trên hình 2.1 thì cho ta thấy chu kỳ kinh tế được thể hiện qua ba pha: Suy thoái, phục hồi và hưng thịnh. Vậy các pha được nhận định như sau: Một là, pha suy thoái là pha trong đó GDP thực tế có xu hướng giảm xuống, nền kinh tế đi xuống như hình vẽ thể hiện bên trên. Hai là, pha phục hồi là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước kỳ suy thoái như hình vẽ trên.
Ba là, pha tăng trưởng còn gọi là pha hưng thịnh tức là khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh (hay còn được gọi là pha bùng nổ). Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Điểm mấu chốt từ pha hưng thịnh chuyển sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế. Để tiếp nối về khái niệm chu kỳ kinh tế thì tác giả giới thiệu thêm khái niệm chung về chu kỳ kinh doanh.
Là một sự kiện bắt đầu các trạng thái chu kỳ. Đó là những gì ban đầu di chuyển nền kinh tế từ một xu hướng lịch sử, trong khi cơ chế lan truyền là quá trình điều chỉnh nội bộ trong nền kinh tế gây ra sự thúc đẩy lan rộng vào nền kinh tế nói chung. Mặt khác, suy thoái kinh tế nói chung bắt đầu khi đầu tư vào vốn mới bắt đầu chậm lại, mặt khác sự mở rộng thường bắt đầu khi các khoản đầu tư vào cổ phiếu vốn mới bắt đầu tăng tốc. Hơn nữa, những thay đổi trong kế hoạch kinh doanh không thường xuyên thường là tín hiệu sớm về sự thay đổi hướng trong chu kỳ kinh doanh (Noam, 2004).2 Lý thuyết chu kỳ kinh tế Bản chất kinh tế và sự vận động của thị trường đều xảy ra và lặp lại theo một vòng tuần hoàn gọi là chu kỳ.
Gồm có 6 lý thuyết như sau: a, Lý thuyết thứ nhất: chu kỳ Kondratiev LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Chu kỳ Kondratiev Chu kỳ Kondratiev của nhà kinh tế học người Nga, ông cho rằng chu kỳ kinh tế được biểu hiện qua từng mùa và một chu kỳ khoảng 60 năm thì lặp lại với các giai đoạn nội bộ được mô tả như mùa xuân, mùa hạ, mùa đông và mùa thu. Mùa xuân là nền kinh tế sẽ là một yếu tố mới trong sản xuất, thời gian kinh tế tốt, lạm phát bắt đầu gia tăng. Mùa hạ là thời kỳ đỉnh hay gọi là phát triển “nóng”, nền kinh tế đi lên trong sự nghi ngờ và lạm phát hai con số. Mùa thu là nền kinh tế thịnh vượng kết thúc trong một bong bóng đầu cơ và mùa đông là nền kinh tế đi vào giai đoạn suy tàn.
b, Lý thuyết thứ 2: chu kỳ Schumpeter Hình 2.3: Chu kỳ Schumpeter Lý thuyết chu kỳ Shumpeter được nhà khoa học và kinh tế lỗi lạc tên là Joseph A. Shumpeter và Shumpeter cho rằng “ Tăng trưởng kinh tế là quá trình chuyển biến từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác, mà sự chuyển biến có thể thực hiện được dựa vào sự thay đổi và đổi mới kỹ thuật” và chu kỳ kinh tế thực sự xoay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 quanh sự vận động của thị trường và dựa trên 4 giai đoạn: giai đoạn thịnh vượng, giai đoạn suy thoái, giai đoạn trầm lắng và giai đoạn hồi phục và theo hình trên cho thấy rằng một chu kỳ khoảng 50 năm. c, Lý thuyết thứ 3: chu kỳ Kitchin Lý thuyết chu kỳ Kitchin cho thấy mối tương quan giữa lượng hàng tồn kho và sản lượng sản xuất. Thị trường bị “ngập tràn” các mặt hàng khi tăng trưởng kinh tế đi lên.
Khi nhu cầu giảm, giá giảm và các mặt hàng sản xuất được tích lũy và làm hàng tồn kho tăng lên. Nhưng có một sự chậm trễ giữa sự vận động của thị trường và thời điểm các doanh nghiệp nhìn nhận vấn đề tiến tới giảm sản lượng sản xuất. d, Lý thuyết thứ 4: chu kỳ Juglar Hình 2.4: Hình chu kỳ Juglar Dựa vào hình 2.4 thì ngoài tín hiệu giảm sụt hàng tồn kho theo chu kỳ Kitchen, nó còn là tín hiệu xác định mức suy giảm của các khoản đầu tư cố định. Vậy lý thuyết này cho thấy mối tương quan giữa hàng tồn kho và khoản đầu tư cố định.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 e, Lý thuyết thứ 5: chu kỳ Kuznets Hình 2.5: Hình chu kỳ Kuznets Hình 2.5 cho thấy các nước đang phát triển có một sự bất bình đẳng trong thu nhập. Khoảng cách sẽ được nhân rộng ra khi thu nhập đạt được mức độ trung bình trong suốt chiều dài chu kỳ. f, Lý thuyết thứ 6: chu kỳ Jevons Hình 2.6: Hình chu kỳ Jevons Lý thuyết thứ sàu này là do ông William Stanley Jevons là giáo sư tại Manchester và ông cho rằng chu kỳ kinh doanh di chuyển dựa trên sự vận động của các tiêu điểm mặt trời.3 Một số lý thuyết giải thích về chu kỳ kinh tế: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Có một số lý thuyết giải thích về chu kỳ kinh tế dựa trên tổng thể nhu cầu: Lý thuyết Keynes, Lý thuyết Tiền tệ và Lý thuyết Kỳ vọng; và một lý thuyết dựa trên tổng cung và cầu: Lý thuyết Chu kỳ kinh doanh thực (RBC). Lý thuyết Keynes (Keynes 1936, Hicks 1950, Tobin 1975) giải thích chu kỳ kinh tế xảy ra là do thay đổi cầu về hành vi của người tiêu dùng và nhà đầu tư.
Quan điểm tiền tệ (Friedrich von Hayek 1993 và 1950, và Friedman 1982) giả định rằng chu kỳ là do biến động trong cung tiền. Các cơ quan có thẩm quyền có thể tăng nguồn cung tiền dẫn đến sự sụt giảm lãi suất, do đó số dư tiền thực tăng lên và tỷ giá trao đổi có thể tăng lên. Sự mất giá của giá trị dẫn đến sự gia tăng đầu tư và xuất khẩu, người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn cho hàng hoá lâu bền, và những thay đổi ban đầu trong chi tiêu có một hiệu ứng số nhân và sự mở rộng bắt đầu. Giảm cung tiền có những hiệu ứng tương tự theo hướng ngược lại - nghĩa là bắt đầu co lại.
Các nhà tiền tệ kỳ vọng rằng các chu kỳ là kết quả của những sai lầm do ngân hàng trung ương thực hiện khi đáp ứng các điều kiện kinh tế. Khi một ngân hàng trung ương hành động bằng cách điều chỉnh lãi suất với chính sách tiền tệ sai trái, nó sẽ đưa ra một tín hiệu không chính xác cho thị trường dẫn đến một câu trả lời sai của các nhà đầu tư, dẫn tới sự bất ổn và tiềm năng chu kỳ (Fischer 1997). Noam (2004) nhận thấy rằng đây không phải là lời giải thích đúng cho chu kỳ, vì ít nhất cho ngành công nghiệp viễn thông, ngay cả trong những thời điểm lãi suất đã được kiểm duyệt, họ không hỗ trợ sự trở lại nhanh hơn ở phía trên của chu kỳ trong ngành công nghiệp. Lý thuyết kỳ vọng hợp lý, đó là các dự báo dựa trên tất cả các thông tin liên quan có sẵn.
Họ không nhất thiết phải dựa trên tất cả các thông tin sẵn có mà họ có thể kỳ vọng do đó “sai lệch”. Một trong những lý thuyết dựa trên các kỳ vọng hợp lý là Lý thuyết Keynes mới, khẳng định rằng sự gia tăng tiêu thụ, do tổng cầu đẩy lên, có nghĩa là chi tiêu đầu tư tăng lên.