Tổng quan nghiên cứu

Nhu cầu năng lượng tại Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế 2011-2015 tăng trưởng bình quân trên 10%/năm, tạo sức ép gay gắt lên hệ thống cung ứng khi thủy điện chiếm tới 45,5% tổng công suất nguồn nhưng thường xuyên thiếu hụt nghiêm trọng vào mùa khô. Trước bối cảnh Tập đoàn Điện lực Việt Nam thiếu hụt khoảng 216.000 tỷ đồng vốn đầu tư nguồn điện và Quy hoạch điện VII đặt mục tiêu nâng tỷ trọng nhiệt điện than lên 51,6% vào năm 2030, dự án Nhà máy Nhiệt điện than Vân Phong 1 được đề xuất với tổng mức đầu tư 2,126 tỷ USD và công suất thiết kế 1.320 MW (tương đương 6% tổng công suất toàn hệ thống năm 2011). Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá toàn diện tính khả thi tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án tại Vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa – khu vực có giá trị sinh thái và tiềm năng du lịch biển đặc biệt quan trọng. Luận văn thực hiện ba mục tiêu cụ thể: xác định ngân lưu tài chính từ quan điểm tổng đầu tư và chủ sở hữu, lượng hóa các chi phí ngoại tác môi trường lên sức khỏe cộng đồng cùng ngành du lịch địa phương, và phân tích phân phối phúc lợi giữa các bên liên quan trong vòng đời 25 năm từ năm 2013 đến 2038. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp bằng chứng định lượng vững chắc: dự án gây tổn thất kinh tế ròng lên tới 560,97 triệu USD cùng chi phí ngoại tác môi trường 90,51 triệu USD, từ đó tạo cơ sở khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách xem xét quyết định tạm dừng hoặc tái cấu trúc dự án.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung phân tích chi phí - lợi ích mở rộng theo phương pháp luận của Jenkins và Harberger (1995), kết hợp đánh giá dòng ngân lưu từ quan điểm tổng đầu tư và quan điểm chủ sở hữu. Để định lượng các tác động môi trường ngoài thị trường, nghiên cứu tích hợp mô hình khuếch tán khí thải Gaussian plume và mô hình thế giới đồng nhất đơn giản của Spadaro (2002) nhằm xác định hàm phản ứng phơi nhiễm đối với ba nhóm bệnh hô hấp trọng yếu: tỷ lệ tử vong mãn tính (chiếm 85% tổng thiệt hại sức khỏe), viêm phế quản mãn tính (chiếm 11%) và số ngày hoạt động bị hạn chế (chiếm 4%). Bên cạnh đó, mô hình chi phí du hành theo vùng dựa trên lý thuyết của Ian Bateman (1993) được áp dụng để xác định đường cầu giải trí và sự suy giảm thặng dư người tiêu dùng của du khách tại Khánh Hòa. Các khái niệm nền tảng bao gồm chi phí cơ hội kinh tế của vốn, mức sẵn lòng chi trả, hệ số chuyển đổi giữa giá tài chính sang giá kinh tế và ngang bằng sức mua nhằm quy đổi chi phí đơn vị điều trị bệnh từ chuẩn quốc tế về điều kiện thực tế tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ báo cáo kỹ thuật của Viện Năng lượng (2009), số liệu thống kê chuỗi thời gian 2001-2011 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và số liệu thực địa từ Trung tâm Quy hoạch Khánh Hòa. Cỡ mẫu khảo sát trong mô hình du lịch kế thừa từ bộ dữ liệu thực nghiệm tại Nha Trang với quy mô 10.111 đối tượng dịch tễ và phân chia mẫu du khách thành 5 vùng địa lý có bán kính từ 110 km đến trên 750 km. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo khoảng cách địa lý được lựa chọn vì phản ánh chính xác sự khác biệt về chi phí du hành và mức độ co giãn của du khách khi chất lượng môi trường không khí suy giảm. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền với chi phí sử dụng vốn bình quân tài chính là 7,21% và suất chiết khấu kinh tế là 10% trong vòng đời 25 năm. Lý do lựa chọn mô hình phân tích kinh tế mở rộng kết hợp mô phỏng Monte Carlo với 10.000 lần thử qua phần mềm chuyên dụng là nhằm xử lý triệt để tính bất định của các biến số vĩ mô như giá than nhập khẩu và giá bán điện theo hợp đồng mua bán điện dài hạn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, xét về mặt tài chính, dự án hoàn toàn không khả thi khi giá trị hiện tại ròng tài chính của tổng mức đầu tư đạt -742,00 triệu USD và suất sinh lời nội tại tài chính chỉ đạt 3,0%, thấp hơn nhiều so với chi phí sử dụng vốn bình quân 7,21%. Đối với phần vốn chủ sở hữu chiếm 30% (tương đương 637,8 triệu USD), giá trị hiện tại ròng đạt -649,71 triệu USD và suất sinh lời nội tại vốn chủ sở hữu chỉ đạt 1,35%, kém xa mức chi phí cơ hội vốn chủ sở hữu 10,55%. Thứ hai, trên phương diện kinh tế - xã hội, giá trị hiện tại thuần kinh tế âm tới -560,97 triệu USD với suất sinh lời kinh tế chỉ đạt 6,24%, không đạt mức chi phí vốn của nền kinh tế là 10%. Thứ ba, chi phí ngoại tác môi trường được lượng hóa lên đến 90,51 triệu USD trong suốt vòng đời dự án, trong đó tổn hại sức khỏe cộng đồng chiếm 90,14 triệu USD (tương đương phát sinh thêm 0,1492 cent cho mỗi kWh điện sản xuất) và tổn thất thặng dư du lịch tại Khánh Hòa là 0,37 triệu USD. Thứ tư, kết quả mô phỏng Monte Carlo xác định xác suất để dự án đạt hiệu quả kinh tế dương chỉ vỏn vẹn 28,05%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự thâm hụt tài chính và kinh tế của dự án là do chi phí nhiên liệu than nhập khẩu quá lớn, chiếm tới 2.858,94 triệu USD trong dòng ngân lưu chi phí tài chính (tương đương 55,5% tổng chi phí vận hành và đầu tư). Giá than nhập khẩu từ Úc về đến nhà máy lên tới 113,87 USD/tấn, trong khi giá mua điện theo hợp đồng dài hạn chỉ ở mức 6,15 cent/kWh, không đủ bù đắp chi phí phát điện và nghĩa vụ trả nợ vay ngân hàng thương mại với lãi suất từ 6,75% đến 8,50%/năm. Khi mô tả dữ liệu qua biểu đồ ngân lưu kinh tế và bảng phân tích phân phối phúc lợi, có thể thấy rõ sự bất cân xứng nghiêm trọng: người tiêu dùng điện và nhà thầu xây lắp được hưởng lợi thặng dư, trong khi chủ đầu tư, ngành du lịch địa phương và nền kinh tế phải gánh chịu toàn bộ rủi ro tài chính cùng ô nhiễm không khí. So sánh với các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về nhiệt điện khí Phú Mỹ, mức giá điện kinh tế hòa vốn của Vân Phong 1 phải đạt tối thiểu 8,31 cent/kWh (tăng 15,9% so với mức cơ sở 7,17 cent/kWh) thì dự án mới bắt đầu có hiệu quả kinh tế, một điều kiện rất khó khả thi trong điều kiện kinh tế hiện hành.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, Bộ Công Thương và Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa cần tiến hành rà soát hợp đồng BOT và xem xét dừng triển khai dự án Nhiệt điện than Vân Phong 1 trước quý IV/2014, nhằm ngăn ngừa khoản thất thoát ngân lưu kinh tế ước tính 560,97 triệu USD và bảo tồn hệ sinh thái vịnh biển.

Hai là, Tập đoàn Điện lực Việt Nam cần đặt mục tiêu cắt giảm tỷ lệ tổn thất truyền tải và phân phối điện năng từ mức 9,5% năm 2011 xuống dưới 6% vào năm 2020 thông qua việc nâng cấp lưới điện 500 kV và 220 kV, giúp tiết kiệm sản lượng điện tương đương một nhà máy công suất 1.320 MW mà không phát sinh thêm chi phí môi trường.

Ba là, các cơ quan điều tiết năng lượng cần điều chỉnh khung giá mua bán điện đối với các nhà máy điện độc lập tiệm cận mức giá điện kinh tế 8,31 cent/kWh theo lộ trình thị trường cạnh tranh giai đoạn 2015-2018, bảo đảm phản ánh đầy đủ chi phí cơ hội nhiên liệu và chi phí ngoại tác môi trường.

Bốn là, chính quyền tỉnh Khánh Hòa cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường cần ban hành cơ chế ký quỹ phục hồi môi trường với mức thu tối thiểu 0,1492 cent/kWh phát điện đối với các dự án nhiệt điện than trước năm 2016, phân bổ nguồn thu vào ngân sách y tế để hỗ trợ khám chữa bệnh đường hô hấp cho hơn 2 triệu dân cư trong vùng ảnh hưởng bán kính 56 km.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa có thể sử dụng luận văn như tài liệu thẩm định mẫu để đánh giá tính khả thi kinh tế - môi trường của các dự án nguồn điện quy mô lớn, áp dụng trực tiếp khung phân tích chi phí - lợi ích mở rộng trước khi cấp phép đầu tư.

Thứ hai, các chuyên gia phân tích tín dụng dự án tại các ngân hàng phát triển và ngân hàng thương mại quốc tế có thể tham khảo phương pháp tính toán hệ số an toàn trả nợ dưới ngưỡng 1,1 và mô hình mô phỏng rủi ro Monte Carlo 10.000 lần thử để thẩm định rủi ro thanh khoản của các hợp đồng mua bán điện dài hạn.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu kinh tế năng lượng và kinh tế tài nguyên môi trường có thể ứng dụng khung lý thuyết kết hợp giữa mô hình lan truyền khí thải Gaussian, hàm phản ứng phơi nhiễm và mô hình chi phí du hành theo vùng để định lượng thiệt hại phúc lợi xã hội trong các đề tài nghiên cứu liên quan.

Thứ tư, các doanh nghiệp phát triển năng lượng tái tạo và nhà máy điện độc lập có thể khai thác các tham số chi phí vốn kinh tế 10% và phương pháp xác định mức sẵn lòng chi trả bình quân 8,6 cent/kWh để xây dựng phương án tài chính cho các dự án điện gió và điện mặt trời thay thế nguồn nhiệt điện phát thải cao.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao dự án Nhiệt điện than Vân Phong 1 không khả thi về mặt kinh tế? Dự án có giá trị hiện tại ròng kinh tế đạt -560,97 triệu USD và suất sinh lời kinh tế chỉ đạt 6,24%, thấp hơn chi phí vốn của nền kinh tế là 10%. Nguyên nhân do chi phí nhiên liệu than nhập khẩu quá lớn và dự án tạo ra chi phí ngoại tác môi trường lên sức khỏe cùng du lịch lên tới 90,51 triệu USD.

  2. Dự án gây ra những tổn thất môi trường cụ thể nào cho tỉnh Khánh Hòa và khu vực lân cận? Khí thải đốt than phát tán bụi PM10, SO2 và NOx gây thiệt hại sức khỏe cộng đồng ước tính 90,14 triệu USD trong vòng đời dự án (khoảng 12,8 triệu USD/năm). Đồng thời, ô nhiễm làm tăng chi phí sức khỏe của du khách thêm 133 VNĐ/người/ngày, làm suy giảm thặng dư du lịch tại Khánh Hòa khoảng 50.825 USD.

  3. Mức giá bán điện tài chính và kinh tế hòa vốn của dự án là bao nhiêu? Trong mô hình cơ sở, giá bán điện tài chính là 6,15 cent/kWh và giá điện kinh tế là 7,17 cent/kWh. Để dự án đạt điểm hòa vốn tài chính, giá bán điện phải tăng lên tối thiểu 7,25 cent/kWh. Để đạt hiệu quả kinh tế, giá điện kinh tế cần đạt mức tối thiểu 8,31 cent/kWh.

  4. Vì sao nhà đầu tư vẫn theo đuổi dự án dù các chỉ số tài chính cơ sở bị âm? Mặc dù mô hình cơ sở cho thấy giá trị hiện tại ròng vốn chủ sở hữu âm 649,71 triệu USD, nhà đầu tư kỳ vọng vào các cam kết bảo lãnh của Chính phủ, ưu đãi thuế suất 0% trong 4 năm đầu và khả năng điều chỉnh tăng giá điện 10%/năm theo cơ chế thị trường để đưa giá trị hiện tại ròng lên mức dương 1.066,87 triệu USD.

  5. Phương pháp ZTCM lượng hóa thiệt hại ngành du lịch trong luận văn như thế nào? Mô hình chi phí du hành theo vùng chia nguồn khách du lịch thành 5 vùng địa lý và thiết lập phương trình đường cầu giải trí. Khi chi phí sức khỏe tăng thêm 133 VNĐ/người, lượng du khách đến Khánh Hòa suy giảm từ 4 đến 10 người/năm trên mỗi vùng, dẫn đến tổng tổn thất thặng dư du lịch toàn dự án là 0,37 triệu USD.

Kết luận

  • Luận văn chứng minh toàn diện dự án Nhiệt điện than Vân Phong 1 không khả thi cả về tài chính (giá trị hiện tại ròng đạt -742,00 triệu USD, suất sinh lời 3,0%) lẫn kinh tế (giá trị hiện tại thuần kinh tế đạt -560,97 triệu USD, suất sinh lời 6,24%).
  • Tổng chi phí ngoại tác tiêu cực đối với sức khỏe cộng đồng và ngành du lịch biển Khánh Hòa được lượng hóa chính xác ở mức 90,51 triệu USD.
  • Phân tích rủi ro và mô phỏng Monte Carlo xác nhận xác suất thành công kinh tế của dự án chỉ đạt 28,05%, chịu tác động trực tiếp từ biến động giá than thế giới và giá điện hợp đồng.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của đề tài là xây dựng thành công quy trình tích hợp giữa phân tích dòng ngân lưu chiết khấu, mô hình lan truyền khí thải và mô hình chi phí du hành trong thẩm định dự án công cộng tại Việt Nam.
  • Khuyến nghị ưu tiên cho giai đoạn 2014-2015 là các cơ quan quản lý nhà nước cần dừng phê duyệt dự án BOT này, chuyển hướng thu hút đầu tư vào năng lượng tái tạo và nâng cấp hiệu suất lưới điện quốc gia.