Chương 1: Tổng quan về công trình nghiên cứu Chương 2: Lý luận chung về thẩm định dự án đầu tư trong lĩnh vực thủy điện tại các NHTM. Chương 3: Thực trạng thẩm định dự án đầu tư trong lĩnh vực thủy điện tại Ngân hàng NN&PTNT tỉnh Điện Biên giai đoạn 2011-2014 Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trong lĩnh vực thủy điện tại Ngân hàng NN&PTNT tỉnh Điện Biên 7 CHƢƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ TRONG LĨNH VỰC THỦY ĐIỆN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Thẩm định dự án đầu tƣ tại NHTM 2. Khái niệm và sự cần thiết thẩm định dự án tại NHTM a.
Khái niệm thẩm định dự án tại NHTM Trên quan điểm các NHTM, thẩm định dự án đầu tư là việc xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện, hiệu quả và khả năng trả nợ của dự án, để từ đó ra quyết định tài trợ vốn cho dự án. Như vậy, trên quan điểm của các NHTM vấn đề quan trọng nhất, được quan tâm nhất trong quá trình thẩm định là khả năng trả nợ của dự án. Dự án có khả năng thực hiện, có hiệu quả là điều kiện để đảm bảo khả năng trả nợ của dự án. Thẩm định dự án là cơ sở để ra quyết định có cho vay vốn đối với dự án và là điều kiện bắt buộc để đảm bảo hiệu quả hoạt động tín dụng của các NHTM.
Sự cần thiết của công tác thẩm định dự án tại NHTM Các NHTM xuất phát từ đặc điểm là những trung gian tài chính hoạt động trong nền kinh tế, chịu ảnh hưởng sâu sắc của cơ chế thị trường thì vấn đề hiệu quả và tính an toàn trong kinh doanh tiền tệ là yêu cầu quan trọng hàng đầu. Hiệu quả và chất lượng của hoạt động tín dụng quyết định rất lớn đến lợi nhuận cũng như khả năng phát triển của NHTM. Các khoản tín dụng NHTM cấp ra phải đảm bảo được hiệu quả kinh tế: thu hồi được vốn và lãi đúng hạn. Lãi thu được không chỉ đủ bù đắp phần lãi mà ngân hàng phải trả cho người gửi tiền và các chi phí khác trong việc thực hiện khoản cho vay, mà còn phải tạo ra lợi nhuận cho hoạt động tín dụng.
Do đó, việc thẩm định dự án để tìm ra những nhân tố tạo ra lợi ích, cũng như những nhân tố gây ra rủi ro cho dự án là cực kỳ quan trọng, góp phần trong nâng cao chất lượng tài trợ dự án nói riêng và chất lượng tín dụng nói chung của các 8 NHTM. Tham gia kinh doanh trong kinh tế thị trường với đặc điểm cố hữu của nó là đầy biến động và rủi ro thì yêu cầu nhất thiết đối với các NHTM khi cho các doanh nghiệp vay vốn là phải tiến hành thẩm định các DAĐT một cách đầy đủ và toàn diện trước khi tài trợ vốn. Thẩm định dự án là cơ sở để ra quyết định có cho vay vốn đối với dự án và là điều kiện bắt buộc để đảm bảo hiệu quả hoạt động tín dụng của các NHTM. Qua đó ta thấy, công tác thẩm định dự án thực sự rất cần thiết và quan trọng trong việc ra quyết định tài trợ vốn cho dự án.
Trước thực tế đó, đòi hỏi NHTM phải có quan tâm đúng mức tới công tác thẩm định dự án đầu tư. Căn cứ thẩm định thẩm định dự án tại NHTM Thẩm định dự án thực hiện trên cơ sở những hồ sơ, tài liệu, thông tin thu thập từ nhiều nguồn không chỉ từ khách hàng vay vốn. Từ đó CBTĐ xem xét, chọn lọc, xử lý dữ liệu thu thập được và tập hợp để tiến hành đánh giá, phân tích các khía cạnh liên quan đến dự án. Căn cứ thẩm định dự án bao gồm: a, Hồ sơ vay vốn: hồ sơ khách hàng vay vốn, hồ sơ DA, hồ sơ bảo đảm tiền vay.
Trong hồ sơ vay vốn, căn cứ đầu tiên và quan trọng nhất chính là tập hồ sơ của dự án bao gồm phần thuyết minh dự án và thiết kế cơ sở đó là các dự án từ năm 2014 trở về trước. Và từ năm 2015 trở đi, tập hồ sơ của dự án bao gồm thẩm định thiết kế cơ sở và nội dung khác của báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng theo luật xây dựng 50/2014/QH13 ngày 18/06/2014 mới ban hành có hiệu từ 01/01/2015. Trong phần thiết kế cơ sở CBTĐ sẽ xem xét: Sự phù hợp của thiết kế cơ sở với quy hoạch chi tiết xây dựng; sự phù hợp của thiết kế cơ sở với vị trí địa điểm xây dựng, khả năng kết nối với hạ tầng kỹ thuật của khu vực; Sự phù hợp của phương án công nghệ, dây chuyền công nghệ được; sự phù hợp của các giải pháp thiết kế về bảo đảm an toàn xây dựng, bảo vệ môi trường;… Đối với các nội dung khác của báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng của dự án, CBTĐ sẽ xem xét sự cần thiết và mục tiêu đầu tư của dự án, đánh giá yếu tố bảo đảm tính khả thi của dự án: đánh giá tình hình thị trường, các phương án 9 kỹ thuật; giải pháp tổ chức thực hiện; kinh nghiệm quản lý của chủ đầu tư và đánh giá yếu tố bảo đảm tính hiệu quả của dự án gồm tổng mức vốn đầu tư, khả năng thu xếp vốn, phương án vay vốn và hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án. b, Căn cứ pháp lý, các tiêu chuẩn, quy phạm và các định mức trong từng lĩnh vực kinh tế kỹ thuật cụ thể: Để đánh giá dự án, CBTĐ thường căn cứ vào chủ trương, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước, địa phương, của ngành và các văn bản pháp luật, quy định có liên quan trực tiếp tới hoạt động đầu tư đang có hiệu lực tại thời điểm định giá hoặc sắp có hiệu lực thi hành trong quá trình thực hiện dự án ví như hoạt động đầu tư thủy điện có phù hợp về: quy hoạch phát triển thủy điện của tỉnh; của chính phủ, về khung giá điện chính phủ ban hành ….
Trong quá trình phân tích, đánh giá khía cạnh kỹ thuật của dự án, CBTĐ luôn phải đối chiếu so sánh với các tiêu chuẩn, quy phạm của ngành, của lĩnh vực cụ thể ví như thủy điện: các thiết kế cụ thể đối với từng thủy điện phù hợp về tiêu chuẩn môi trường, công nghệ, kỹ thuật …. c, Các quy ước, thông lệ quốc tế: Bên cạnh đó, căn cứ thẩm định còn dựa trên các điều ước quốc tế chung đã ký kết giữa các tổ chức quốc tế hay nhà nước với nhà nước. Quy định của các tổ chức tài trợ vốn (WB, IMF, ADB, JBIC.), các quỹ tín dụng xuất khẩu của các nước, các quy định về thương mại, tín dụng, bảo lãnh, bảo hiểm. Để có căn cứ thẩm định dự án đầu tư, các CBTĐ phải điều tra, thu thập, tổng hợp và phân tích các nguồn thông tin về khách hàng bằng nhiều nguồn: - Một là: Các thông tin thực tế từ dự án và doanh nghiệp xin vay vốn.
- Hai là: Thông tin từ các văn bản pháp lý, các quy định, các tiêu chuẩn. do nhà nước ban hành. - Ba là: Thông tin từ các cơ quan nghiên cứu, các chuyên gia và phương tiện thông tin đại chúng, thông tin tổng hợp qua mạng Internet. Quy trình tổ chức thẩm định dự án đầu tư tại NHTM Mỗi ngân hàng tự xây dựng và áp dụng cho nội bộ đơn vị mình một quy trình thẩm định riêng sao cho phù hợp với điều kiện của ngành, của ngân hàng và tuân thủ đúng quy định của NHNN.
Tuy nhiên, về cơ bản một quy trình tổ chức thẩm định bao gồm các bước theo sơ đồ sau sau: Tập Tiến Lập báo Trình lên Tiếp hợp căn hành cáo kết cấp có nhận cứ thẩm thẩm quả thẩm thẩm quyền hồ sơ định định định phê duyệt Sơ đồ 2. Quy trình thẩm định dự án đầu tự tại NHTM Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ dự án: KH có nhu cầu vay vốn sẽ gửi toàn bộ hồ sơ dự án theo yêu cầu của ngân hàng. Phòng nghiệp vụ sẽ tiếp nhận hồ sơ và lập kế hoạch thẩm định dự án; Bước 2: Tập hợp các căn cứ để thẩm định: bộ phận nghiệp vụ sẽ tiến hành thu thập, tổng hợp các nguồn thông tin phục vụ cho việc phân tich, đánh giá dự án; Bước 3: Tiến hành thẩm định: đơn vị đầu mối tổ chức thẩm định, phân tích đánh giá dự án, đề xuất ý kiến trên cơ sở tổng hợp ý kiến của các đơn vị có liên quan và kết quả thẩm định thiết kế cơ sở; Bước 4: Lập báo cáo kết quả thẩm định dự án đầu tư theo mẫu quy định của ngân hàng; Bước 5: Trình lên cấp có thẩm quyền phê duyệt. Phương pháp thẩm định dự án tại NHTM Tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi dự án, mỗi nội dung thẩm định cũng như nguồn thông tin thu thập được, CBTĐ áp dụng các phương pháp thẩm định khác nhau.
Các phương pháp được sử dụng thẩm định tại các NHTM bao gồm: 2. Phương pháp thẩm định theo trình tự Đây là phương pháp phổ biến được áp dụng trong thẩm định dự án ở hầu hết các ngân hàng. Thẩm định theo trình tự là quá trình xem xét dự án từ tổng quát đến chi tiết, kết luận trước làm tiền đề cho kết luận sau. 11 Thẩm định tổng quát: Trước tiên các CBTĐ sẽ xem xét khái quát các nội dung của dự án, qua đó đánh giá một cách chung nhất tính hợp lý, hợp lệ của dự án như: hồ sơ pháp lý, tư cách pháp lý cua chủ đầu tư… Trong giai đoạn này, thẩm định giúp cho CBTĐ hình dung khái quát dự án, hiểu rõ quy mô và tầm quan trọng của dự án.
Thẩm định chi tiết: Sau khi có cái nhìn tổng thể về dự án, CBTĐ sẽ đi sâu xem xét tỉ mỉ, chi tiết từng nội dung dự án. Việc thẩm định được tiến hành theo quy trình ở trên, mỗi nội dung được đưa ra phân tích kĩ lưỡng để cho kết luận chính xác. Trong khi tiến hành thẩm định chi tiết, nếu một số nội dung cơ bản bị bác bỏ thì CBTĐ có thể bác bỏ toàn bộ dự án mà không cần thẩm định tiếp các nội dung còn lại của dự án. Nếu kết luận của bước thẩm định chi tiết thống nhất với các kết luận của thẩm định tổng quát và có đủ căn cứ, cơ sở thuyết phục thì có dự án sẽ được chấp thuận.